Ý nghĩa của sách trong cuộc sống
Công ước Chống tra tấn và pháp luật Việt Nam về phòng, chống tra tấn

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Thẩm
Ngày gửi: 08h:44' 15-03-2024
Dung lượng: 521.5 KB
Số lượt tải: 1
Người gửi: Lê Thị Thẩm
Ngày gửi: 08h:44' 15-03-2024
Dung lượng: 521.5 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
ĐỀ ÁN TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN TRONG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC,
VIÊN CHỨC VÀ NHÂN DÂN VỀ NỘI DUNG CỦA CÔNG ƯỚC CHỐNG
TRA TẤN VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ PHÒNG, CHỐNG TRA TẤN
GIỚI THIỆU CÔNG ƯỚC CHỐNG TRA TẤN
VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ PHÒNG,
CHỐNG TRA TẤN
Hà Nội, năm 2022
1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
1
Công ước Chống
tra tấn
Công ước Chống tra tấn và các hình thức đối
xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc
hạ nhục con người
2
PCCC
Phòng cháy chữa cháy
3
PCTP
Phòng chống tội phạm
4
CSGT
Cảnh sát giao thông
5
VKSND
Viện Kiểm sát nhân dân
2
CHUYÊN ĐỀ 1. KHÁI NIỆM TRA TẤN
I. KHÁI NIỆM TRA TẤN
Tra tấn là gì ?
“…"Tra tấn" có nghĩa là bất kỳ hành vi nào cố ý gây đau đớn hoặc đau khổ
nghiêm trọng về thể xác hay tinh thần cho một người, nhằm mục đích thu thập
thông tin hoặc lời thú tội từ người đó hay một người thứ ba, hoặc để trừng phạt
người đó vì một hành vi mà người đó hay người thứ ba đã thực hiện hay bị nghi
ngờ đã thực hiện, hoặc để đe doạ hay ép buộc người đó hoặc người thứ ba, hoặc vì
bất kỳ một lý do nào khác dựa trên sự phân biệt đối xử dưới mọi hình thức, khi nỗi
đau đớn và đau khổ đó do một công chức hay người được sự đồng ý/ chấp
thuận/xúi giục của công chức thực hiện”1.
CÁC DẤU HIỆU CỦA HÀNH VI TRA TẤN
- Về chủ thể thực hiện hành vi tra tấn: hành vi tra tấn được thực hiện bởi
một trong hai chủ thể sau:
+ Nhân viên công quyền (cán bộ, công chức, viên chức)
+ Người khác mà được nhân viên công quyền đồng ý hoặc cho phép hoặc
xúi giục (yêu cầu) thực hiện hành vi tra tấn.
- Về mặt chủ quan: Được thực hiện với lỗi cố ý
Lỗi cố ý là trường hợp người thực hiện hành vi nhận thức rõ hành vi của
mình nguy hiểm cho xã hội hoặc sẽ gây thiệt hại, tuy nhiên vẫn mong muốn hậu
quả xảy ra hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho hậu quả xảy ra.
1
Điều 1 Công ước Chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ
nhục con người.
3
- Về hành vi khách quan: Bất cứ hành vi nào gây đau đớn hoặc đau khổ
nghiêm trọng về thể xác hay tinh thần cho một người.
Có thể là:
+ Sử dụng vũ lực tác động trực tiếp lên cơ thể con người: đánh đập, đâm
chém, dùng điện, tra hỏi liên tục, để đói, khát, ăn nhạt/mặn, bắt đứng hoặc quỳ
dưới sức nóng, bắt cởi quần áo trong trời giá rét...;
+ Bằng lời nói thô bạo tác động vào tâm lý, tinh thần, tình cảm người
khác như sỉ nhục, lăng mạ, xúc phạm người đó hoặc người thân của người đó
(như cha, mẹ, vợ, con, người thân khác hoặc đồng chí, đồng đội) làm cho họ sợ
hãi, tinh thần suy sụp.
Hậu quả là gây đau đớn và khổ sở nghiêm trọng cho cả tinh thần và thể
xác, tâm lý của người bị tra tấn.
- Về mục đích: Để lấy thông tin hoặc trừng phạt vì một việc mà người đó
đã làm vì lý do công vụ.
Ví dụ như trực tiếp tác động vào thể xác hoặc tinh thần của người bị tra
tấn để họ phải khai báo, thú nhận nhưng cũng có thể tác động vào tâm lý của
người thứ ba để họ thấy sợ hãi, lo lắng, thương xót cho người bị tra tấn mà khai
báo, thú nhận hoặc đưa ra những thông tin trái với ý muốn, suy nghĩ của họ.
Bạo lực học đường có phải hành vi
tra tấn không?
Trả lời:
Bạo lực trong học đường không phải là tra tấn, mặc dù hành vi này có thể
khiến nạn nhân bị thương tích, bị tổn thương về tinh thần.
Bởi chủ thể thực những hành vi bạo lực học đường không phải là nhân viên
công quyền của Nhà nước (cán bộ, công chức nhà nước đang thi hành công vụ)
4
hoặc người được nhân viên công quyền đồng ý/cho phép thực hiện hành vi bạo lực
với người khác. Trong khi đó bạo lực học đường do học sinh thực hiện (không phải
nhân viên công quyền; cũng không phải do nhân viên công quyền đồng ý/cho
phép). Mục đích của hành vi bạo lực học đường là mâu thuẫn cá nhân giữa các em
học sinh chứ không phải để lấy thông tin hoặc trừng phạt vì lý do công vụ.
MỘT SỐ LƯU Ý:
+ Công ước CAT loại trừ sự đau đớn hay khổ sở gây ra một cách ngẫu nhiên
hoặc sẵn có, không thể tránh khỏi bởi các hình phạt được pháp luật của quốc gia
thành viên quy định. Tuỳ theo pháp luật của các nước khác nhau, sự quy định này là
khác nhau. Nhưng nhìn chung, để ngăn chặn một hành vi phạm tội, ngăn chặn người
phạm tội bỏ trốn... pháp luật cho phép người có thẩm quyền được sử dụng vũ lực ở
một mức độ nhất định để thực thi nhiệm vụ của mình; việc áp dụng một số hình phạt
được pháp luật các quốc gia cho phép như hình phạt tử hình, hình phạt roi… không
bị coi là hành vi tra tấn.
+ Những hành vi gây ra đau đớn chỉ được coi là tra tấn khi nó được thực hiện
với mục đích nhất định, thẩm quyền nhất định. Như vậy nếu có một vụ ẩu đả, đánh
đập diễn ra trên đường phố thì dù có thể nạn nhân bị thương tích, bị xâm hại nhưng
những người thực hiện hành vi đó không theo bất kỳ một mệnh lệnh hay dưới
quyền lực của chính quyền, quân đội, tư pháp thì đó không phải là tra tấn (mà theo
pháp luật Việt Nam là hành vi cố ý gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác). Trái lại, nếu hành vi trên do một nhóm người thuộc lực lượng có thẩm
quyền thực hiện thì đó là tra tấn.
+ Tra tấn phải được thực hiện cố ý, trái ý muốn nạn nhân và khi nạn nhân
trong tình trạng không thể tự vệ được. Như vậy trong các trường hợp những sự đau
đớn nghiêm trọng được thực hiện một cách vô ý như A vô tình làm bị thương B; A
cố tình làm B bị thương và B đồng ý để cho A làm bị thương mình thì các trường
5
hợp này không phải là tra tấn. Trên thực tế tra tấn không thể xảy ra nếu không tước
bỏ quyền tự chủ của nạn nhân trong quá trình tra tấn. Tra tấn được thực hiện với
mục đích tê liệt ý chí của nạn nhân. Người thực hiện hành vi tra tấn sẽ cố ý thực
hiện việc kiểm soát đối với cơ thể và các giác quan của nạn nhân (gây ra sự đau
đớn).
+ Cần phải phân biệt tra tấn với cưỡng ép.
Tra tấn
Cưỡng ép
- Chủ thể
Công chức nhà nước
Bất kỳ người nào
- Mục đích
Lấy thông tin, trừng phạt
Bắt người bị cưỡng ép
thực hiện theo ý chí chủ
quan của người cưỡng ép
- Lỗi
Cố ý
Cố ý
- Hành vi khách quan
Sử dụng vũ lực, đe dọa
dùng vũ lực; tác động vào
tâm lý, tinh thần, tình
cảm người khác như sỉ
nhục, lăng mạ, xúc phạm
Sử dụng vũ lực, đe dọa
dùng vũ lực; tác động vào
tâm lý, tinh thần, tình
cảm người khác như đe
dọa, nêu điều kiện, chửi
mắng, bắt phải làm theo.
Ví dụ
Cán bộ điều tra dùng
nhục hình đối với người
bị tạm giữ, tạm giam để
lấy lời khai
Kẻ cướp đe dọa xâm
phạm tính mạng để một
người phải miễn cưỡng
giao tài sản.
6
II. MỘT SỐ VÍ DỤ:
Ví dụ 1:
Cảnh sát giao thông đang thực hiện nhiệm vụ tại ngã tư thì
phát hiện có 01 người không đội mũ bảo hiểm nên đã ra
hiệu lệnh yêu cầu dừng xe vào lề đường nhưng người vi
phạm không chấp hành. Cảnh sát đó đã dùng dùi cui vụt vào
tay người vi phạm. Đề nghị cho biết, hành vi của cảnh sát
có phải là tra tấn không?
Trả lời
Đây không phải là hành vi tra tấn. Mặc dù chủ thể thực hiện hành vi này là:
Cảnh sát giao thông (là công chức Nhà nước); hành vi này thực hiện với lỗi cố ý, sử
dụng vũ lực tác động trực tiếp lên người tham gia giao thông; mục đích nhằm trừng
phạt người tham gia vì họ đã không đội mũ bảo hiểm và không chấp hành hiệu lệnh
của cảnh sát.
Tuy nhiên, hành vi cảnh sát giao thông dùng dùi cui vụt vào tay không gây ra
hậu quả nghiêm trọng đến sức khỏe hay tinh thần của người vi phạm. Vậy nên đây
không phải hành vi tra tấn.
Ví dụ 2:
Ông M bị tố cáo có hành vi dâm ô trẻ em. Tại trụ sở
công an huyện, cán bộ Y đã trói chân, trói tay dùng gậy
đánh liên tiếp vào người để bắt ông M khai nhận. Hỏi
hành vi của cán bộ Y có phải là tra tấn không?
Trả lời:
Hành vi trên là tra tấn vì
7
(1) Về mặt chủ quan: Được thực hiện với lỗi cố ý.
(2) Về hành vi: Trói chân, trói tay dùng gậy đánh liên tiếp vào người
(3) Yếu tố mục đích: Lấy lời khai, thu thập thông tin, lời thú tội.
(4) Chủ thể: Là cán bộ điều tra - một nhân viên công quyền.
Ví dụ 3:
Y đang thi hành án phạt tù và thường xuyên bị K là phạm
nhân cùng phòng giam đánh đập gây tổn hại nghiêm trọng
về mặt tinh thần. Cán bộ quản lý trại giam biết việc này
nhưng không can thiệp và cho rằng đó là hành động răn đe
do Y hay vi phạm kỷ luật trong nhà giam. Hỏi hành vi của
K có phải tra tấn không?
Trả lời:
Hành vi trên là tra tấn vì
(1) Về mặt chủ quan: Được thực hiện với lỗi cố ý.
(2) Về hành vi: Đánh trực tiếp vào người
(3) Hậu quả: Gây tổn hại nghiêm trọng về mặt tinh thần.
(4) Mục đích: Trừng phạt
(5) Chủ thể: Cá nhân thực hiện hành vi trên cơ sở sự cho phép, chấp thuận,
đồng tình của cán bộ, công chức nhà nước
8
Hình phạt tử hình là hình phạt còn tồn tại ở
nhiều quốc gia (trong đó có Việt Nam). Đề
nghị cho biết, tử hình có phải là tra tấn
không?
Trả lời:
Việc áp dụng hình phạt tử hình không phải là hành vi tra tấn bởi:
Tử hình là hình phạt đặc biệt được pháp luật quy định nhằm tước
bỏ quyền sống của người bị kết án. Hình phạt tử hình được quy định
trong pháp luật quốc gia nhằm trừng trị người phạm tội và giáo dục
người khác tôn trọng pháp luật.
Công ước CAT không bắt buộc các quốc gia thành viên phải loại
bỏ hình phạt tử hình nhưng khuyến khích bỏ hình phạt tử hình trong cơ
cấu các hình phạt đối với người phạm tội.
Bạn có biết
Hành vi “tra tấn” được phân biệt với hành vi “đối xử hoặc trừng phạt
tàn bạo, vô nhâận đạo hoặc hạ nhục con người” như sau:
(1) Chủ thể:
+ Tra tấn: chủ thể thực hiện là cán bộ, công chức nhà nước hoặc cá nhân
được trao quyền thi hành công vụ; cá nhân thực hiện hành vi trên cơ sở sự cho
phép, chấp thuận, đồng tình của cán bộ, công chức nhà nước.
9
+ Đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người: Chủ
thế là bất kỳ người nào.
(2) Mức độ nghiêm trọng của tổn thương:
+ Tra tấn: Gây ra các tổn thương nghiêm trọng.
+ Đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục: Có thể gây ra
tổn thương nghiêm trọng hoặc không nghiêm trọng.
(3) Yêu cầu của Công ước đối với quốc gia thành viên
+ Tra tấn: Công ước cấm tuyệt đối (không có ngoại lệ, không được miễn trừ
trách nhiệm trong mọi trường hợp).
+ Đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người:
Công ước yêu cầu các quốc gia thành viên phải “ngăn chặn”, không được quy định
theo hướng cấm tuyệt đối (Điều 16 Công ước Chống tra tấn).
10
CHUYÊN ĐỀ 2. SỰ RA ĐỜI CỦA CÔNG ƯỚC CHỐNG
TRA TẤN VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG ƯỚC
CHỐNG TRA TẤN
I. SỰ RA ĐỜI CỦA CÔNG ƯỚC CHỐNG TRA TẤN
Công ước Chống tra
tấn được ra đời như
thế nào?
Ngày 9/12/1975, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Tuyên ngôn về bảo
vệ tất cả mọi người khỏi tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô
nhân đạo hoặc hạ nhục được (Nghị quyết 3452(XXX)). Tuyên ngôn này được coi
là điểm khởi đầu cho các nỗ lực về chống tra tấn của cộng đồng quốc tế. Cùng với
Tuyên ngôn ngày, Đại hội đồng Liên hợp quốc cũng thông qua Nghị quyết
3453(XXX) đề nghị Hội đồng Nhân quyền thực hiện các nghiên cứu cũng như các
bước cần thiết để đảm bảo thực hiện Tuyên ngôn về chống tra tấn được hiệu quả.
Hai năm sau (năm 1977), Đại hội đồng Liên hợp quốc chính thức yêu cầu Hội đồng
Nhân quyền xây dựng một bản dự thảo Công ước về chống tra tấn dựa trên các
nguyên tắc đã được ghi nhận tại Tuyên ngôn về chống tra tấn.
Ủy ban Nhân quyền đã bắt đầu công việc xây dựng dự thảo Công ước chống
tra tấn từ tháng 2-3/1978. Một nhóm chuyên gia đã được thành lập nhằm phục vụ
11
cho hoạt động thảo luận, xây dựng dự thảo Công ước và dự thảo đầu tiên đã được
đề xuất bởi Thụy Điển. Trong những năm tiếp theo, một nhóm chuyên gia khác
được thành lập để hoàn thiện nội dung dự thảo Công ước. Đến năm 1984, dự thảo
Công ước đã hoàn thiện và được chuyển để thảo luận, thông qua tại Đại hội đồng
Liên hợp quốc.
Công ước Chống tra tấn có tên đầy đủ là Công ước chống tra tấn và các hình
thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người (viết tắt
là Công ước CAT) và được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày
10/12/1984 bằng Nghị quyết 39/46. Công ước có hiệu lực từ ngày 26/6/1987 sau
khi được 20 quốc gia phê chuẩn gia nhập.
Ý NGHĨA SỰ RA ĐỜI CỦA CÔNG ƯỚC CAT
Công ước CAT là một trong 09 công ước quốc tế cơ bản về quyền
con người của Liên hợp quốc.
Đến nay, Công ước CAT đã có 166 quốc gia thành viên. Sự ra đời
và mức độ phổ biến của Công ước đã khẳng định nỗ lực, quyết tâm chung
của cộng đồng quốc tế trong cuộc đấu tranh chống tra tấn và các hình thức
đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ nhục khác trên toàn
thế giới.
Việc Đại hội đồng thông qua Công ước Chống tra tấn là sự kiện lịch
sử mang đậm dấu ấn tiến bộ của nhân loại trong nỗ lực bảo vệ con người
khỏi bị tra tấn là bước đột phá trong cuộc đấu tranh phòng, chống tra tấn
trên toàn thế giới và là công cụ hữu hiệu để loại bỏ hoàn toàn hành vi tra
tấn ra khỏi đời sống của xã hội văn minh.
12
II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG ƯỚC CHỐNG TRA TẤN
1. Nội dung cơ bản của Công ước chống tra tấn
Nội dung cơ bản của Công ước chống tra tấn bao gồm 3 phần:
Phần I (từ Điều 1 đến Điều 16)
Quy định các nghĩa vụ của quốc gia thành viên Công ước cần áp dụng trong
pháp luật quốc gia. Đây là những nội dung quan trọng nhất của Công ước.
Quy định thẩm quyềnPhần
và các
phương
hoạt
động
II (từ
Điều thức
17 đến
Điều
24)của Ủy ban chống tra
tấn, cơ quan chịu trách nhiệm giám sát việc thực thi Công ước (thông qua
việc xem xét báo cáo định kỳ của các quốc gia là thành viên, nhận khiếu nại
của các nạn nhân bị tra tấn, điều tra tình hình thực tế…).
Phần III (từ Điều 25 đến Điều 33)
Quy định về các khía cạnh kỹ thuật về ký kết, phê chuẩn Công ước, thủ tục
sửa đổi, việc bảo lưu Công ước
2. Nghĩa vụ của các quốc gia thành viên của Công ước Chống tra tấn
Nghĩa vụ của Quốc gia thành viên Công ước chống tra tấn
Nghĩa vụ
cấm các
hành vi tra
tấn
Nghĩa vụ
trừng phạt
các hành
vi tra tấn
Nghĩa vụ
ngăn
ngừa
hành vi
tra tấn
13
3. Nghĩa vụ của Quốc gia thành viên để nghiêm cấm hành vi tra tấn
Để nghiêm cấm hành vi tra tấn, các quốc gia thành viên của Công ước CAT có
những nghĩa vụ sau đây:
- Áp dụng các biện pháp lập pháp, hành pháp, tư pháp và các biện pháp khác
(Điều 2 Công ước Chống tra tấn);
- Nghĩa vụ hình sự hóa hành vi tra tấn (Điều 4 Công ước Chống tra tấn);
- Quyền tài phán (Điều 5 Công ước Chống tra tấn);
- Nghĩa vụ không trục xuất, trao trả hoặc dẫn độ (Điều 3 Công ước Chống tra
tấn).
a) Nghĩa vụ áp dụng các biện pháp lập pháp, hành pháp, tư pháp và các
biện pháp khác của quốc gia thành viên Công ước chống tra tấn
Quốc gia thành viên áp dụng các
biện pháp lập pháp, hành pháp, tư
pháp theo quy định của Công ước
chống tra tấn như thế nào?
- Về biện pháp lập pháp: Công ước quy định các quốc gia thành viên có nghĩa
vụ phải ghi nhận bằng pháp luật quyền không bị tra tấn của mọi công dân; nghiêm
cấm hành vi tra tấn và phải quy định tra tấn là một tội phạm, bị xét xử với chế tài
nghiêm khắc nhằm răn đe, ngăn ngừa hành vi tra tấn, bảo vệ tính mạng, danh dự và
nhân phẩm của con người; đồng thời, ban hành mới hoặc chỉnh sửa các quy định
hiện hành để các quy định pháp luật nội dung và tố tụng (hình thức) của quốc gia
đều đảm bảo quyền không bị tra tấn cho tất cả mọi người trên lãnh thổ quốc gia.
- Về biện pháp hành pháp: Công ước yêu cầu các quốc gia thành viên phải bảo
đảm và tôn trọng quyền không bị tra tấn, trừng phạt hay đối xử tàn bạo, vô nhân
14
đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm của mọi công dân, trong đó, đặc biệt lưu ý đến việc
xây dựng các quy chuẩn đạo đức, nghề nghiệp cho các cán bộ, viên chức; đẩy mạnh
tuyên truyền, giáo dục cho các quan chức thực thi pháp luật để triệt tiêu các vi
phạm pháp luật của các nhân viên công quyền nói chung và nhân viên hành pháp
nói riêng.
- Về biện pháp tư pháp: Công ước đòi hỏi các quốc gia thành viên phải bảo
đảm thực hiện quyền không bị tra tấn, trừng phạt hoặc đối xử tàn bạo, vô nhân đạo
hoặc hạ thấp nhân phẩm của công dân trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và
thi hành án. Đây là những hoạt động có nhiều nguy cơ xảy ra hành vi tra tấn đối với
bị can, bị cáo; người bị tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành án phạt tù. Do
đó, các hoạt động tư pháp phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật để bảo
đảm yêu cầu của Công ước; cùng đó, phải có hệ thống giám sát hiệu quả để đảm
bảo tính khách quan, chính xác và kịp thời của các hoạt động tư pháp, hạn chế đến
mức thấp nhất sự xâm hại đến quyền và lợi ích chính đáng của người dân.
- Các biện pháp khác: các biện pháp nhằm hỗ trợ, nâng cao hiệu quả của các
quy định cấm tra tấn, chẳng hạn như tuyên truyền, phổ biến pháp luật; đào tạo cán
bộ….
Khoản 2 Điều 2 Công ước khẳng định rằng, không có bất cứ một trường hợp
ngoại lệ nào, kể cả trong trường hợp một quốc gia đang trong tình trạng chiến tranh
hoặc có nguy cơ chiến tranh, hoặc có sự bất ổn định về chính trị nội bộ hoặc bất cứ
tình trạng khẩn cấp chung nào có thể biện hộ cho hành động tra tấn.
Bên cạnh đó, Công ước cũng quy định không được viện dẫn mệnh lệnh của một
sĩ quan cao cấp hoặc một cơ quan công quyền để biện minh cho hành vi tra tấn (khoản
3 Điều 2).
15
b) Nghĩa vụ hình sự hóa hành vi tra tấn
Theo Công ước Chống tra tấn,
nghĩa vụ hình sự hóa các hành
vi tra tấn được hiểu như thế
nào?
Nhằm mục đích nghiêm cấm triệt để các hành vi tra tấn, Công ước quy định
nghĩa vụ của các quốc gia thành viên phải hình sự hóa hành vi này để có thể áp
dụng những hình phạt thích đáng, nhằm trừng phạt những người thực hiện hành vi
tra tấn. Nội dung này được quy định tại Điều 4 như sau:
“1. Các quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng mọi hành vi tra tấn đều là tội
phạm theo pháp luật hình sự của nước đó. Quy định này cũng phải áp dụng đối với
những hành vi chuẩn bị thực hiện việc tra tấn và hành vi đồng phạm hoặc tham gia
vào việc tra tấn.
2. Các quốc gia thành viên phải trừng trị những tội phạm này bằng những hình
phạt thích đáng tương ứng với tính chất nghiêm trọng của hành vi”.
Điều này yêu cầu các quốc gia thành viên phải bảo đảm rằng mọi hành vi tra
tấn đều bị coi là tội phạm và bị truy cứu trách nhiệm hình sự với khung hình phạt
nghiêm khắc. Theo đó, bất kỳ nhân viên công quyền hoặc người không phải là nhân
viên công quyền nhưng được sự đồng ý hay chấp thuận của một nhân viên công
16
quyền hoặc một người khác có quyền lực như một nhân viên công quyền trong khi
thực thi công vụ mà trực tiếp hoặc gián tiếp gây đau đớn về thể xác hoặc tinh thần
cho người khác với mục đích để lấy thông tin, trừng phạt, gây hoảng sợ, cưỡng bức
hoặc vì lý do phân biệt đối xử đều trở thành chủ thể của hành vi tra tấn và đều bị truy
cứu trách nhiệm hình sự. Với quy định này, Công ước yêu cầu phạm vi hình sự hoá
tương đối rộng, không chỉ hạn chế trong phạm vi hoạt động tố tụng hình sự mà về lý
thuyết, hành vi tra tấn có thể xảy ra trong tất cả hoạt động có mang tính thực thi công
quyền.
c) Quyền tài phán của quốc gia thành viên Công ước chống tra tấn
Điều 5 của Công ước Chống tra tấn quy định các quốc gia cần phải có cơ chế
để bảo đảm việc xét xử các tội phạm về tra tấn sẽ được thực hiện trong phạm vi
rộng nhất có thể, cụ thể như sau:
“1. Mỗi quốc gia thành viên phải thực hiện những biện pháp cần thiết để thiết
lập quyền tài phán của mình đối với những tội phạm quy định tại Điều 4 trong
những trường hợp sau đây:
a) Khi tội phạm được thực hiện trên lãnh thổ thuộc phạm vi quyền tài phán
quốc gia hoặc trên tàu bay hoặc tàu thuyền đã đăng ký ở quốc gia đó;
b) Khi người bị tình nghi phạm tội là công dân của quốc gia đó;
c) Khi nạn nhân là công dân của quốc gia đó nếu quốc gia đó thấy phù hợp.
2. Mỗi quốc gia thành viên cũng phải thực hiện những biện pháp cần thiết để
thiết lập quyền tài phán của mình đối với những tội phạm nêu trên trong trường
hợp người bị tình nghi phạm tội đang có mặt trên bất cứ vùng lãnh thổ thuộc phạm
vi quyền tài phán của quốc gia và không thực hiện việc dẫn độ người này theo quy
định tại Điều 8 đến bất kỳ quốc gia nào được quy định trong khoản 1 của Điều này.
3. Công ước này không loại trừ các quyền tài phán hình sự được thực thi/áp
dụng theo pháp luật quốc gia”.
17
Theo quy định nói trên, các quốc gia có hai sự lựa chọn là: (i) thiết lập quyền tài
phán trên cơ sở quy định của Công ước; hoặc (ii) áp dụng theo pháp luật quốc gia.
Trong 166 quốc gia thành viên của Công ước tính đến thời điểm hiện tại, hầu hết các
quốc gia đều quy định về quyền tài phán theo như quy định tại Điều 5 Công ước
(Việt Nam cũng nằm trong số này). Tuy vậy, việc xác lập quyền tài phán của các
quốc gia khác nhau có thể khác nhau.
Hành vi tra tấn bị cấm tuyệt đối, do đó, hiện nay, thế giới đang công nhận tra
tấn là một tội phạm thuộc phạm vi tài phán phổ quát.
Thẩm quyền phổ quát thường được mô tả như khả năng truy tố người có mặt
trên lãnh thổ của một quốc gia về tội phạm thực hiện bên ngoài lãnh thổ của quốc
gia đó mà không có mối liên hệ với quốc gia đó về quốc tịch của người bị tình nghi
hoặc của người bị hại hoặc bởi việc gây nguy hại cho lợi ích của quốc gia đó. Công
ước Chống tra tấn là điều ước quốc tế đầu tiên quy định về quyền tài phán phổ quát
đối với các tội phạm tra tấn ngoài phạm vi của một cuộc xung đột vũ trang.
d) Nghĩa vụ không trục xuất, trao trả hoặc dẫn độ trong Công ước Chống
tra tấn
Điều 3 của Công ước cũng đồng thời yêu cầu các quốc gia phải ngăn ngừa khả
năng hành vi này sẽ được thực hiện đối với những người bị trục xuất, trao trả hoặc
dẫn độ từ quốc gia mình, cụ thể là:
“1. Các quốc gia thành viên không được trục xuất, trao trả hoặc dẫn độ một
người cho một quốc gia khác nếu có đủ căn cứ để cho rằng người này có nguy cơ
phải chịu sự tra tấn ở quốc gia đó.
2. Để xác định có hay không tồn tại các căn cứ trên, các cơ quan có thẩm
quyền phải xem xét mọi yếu tố có liên quan, bao gồm cả, tình trạng xâm phạm
quyền con người một cách trắng trợn, thô bạo, thường xuyên hoặc trên diện rộng ở
quốc gia có liên quan, nếu có thể.”
18
Theo Công ước, quốc gia thành viên không được trục xuất, dẫn độ, trao trả
một người trở lại một nước mà ở đó người bị dẫn độ, trao trả, trục xuất có nguy cơ
bị tra tấn. Điều giới hạn này chỉ áp dụng trong trường hợp có cơ sở chắc chắn để tin
rằng người bị dẫn độ, trục xuất, trao trả có thể bị nguy hiểm do nguy cơ bị tra tấn.
"Trục xuất" được dùng trong tình huống đối tượng nhập cảnh một cách hợp
pháp nhưng sau đó bị buộc rời khỏi lãnh thổ, còn "trao trả" dùng trong tình huống
đối tượng nhập cảnh bất hợp pháp.
“Dẫn độ” là hành vi cơ quan có thẩm quyền của một quốc gia trao người cho
cơ quan có thẩm quyền của quốc gia khác nhằm mục đích xét xử hoặc thi hành án,
trong khi người bị trục xuất không bị trao cho cơ quan có thẩm quyền của nước
khác và về nguyên tắc, người bị trục xuất có thể chọn quốc gia đến.
4. Nghĩa vụ trừng trị hành vi tra tấn của Quốc gia thành viên theo
Công ước Chống tra tấn
Nghĩa vụ trừng trị hành vi tra tấn gồm:
a) Hoặc dẫn độ hoặc truy tố:
Điều 8 của Công ước quy định trách nhiệm của các quốc gia thành viên cần
phải quy định hành vi tra tấn là một hành vi tội phạm hình sự và cần phải coi đó là
một tội trong các tội được dẫn độ. Điều này có thể được quy định trong pháp luật
quốc gia hoặc trong các điều ước quốc tế song phương về dẫn độ giữa các thành
viên của Công ước.
Trường hợp quốc gia thành viên không thực hiện dẫn độ thì theo nguyên tắc
“hoặc dẫn độ, hoặc truy tố”, quốc gia thành viên phải tiến hành tố tụng theo thẩm
quyền của quốc gia mình, việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với tội
phạm này phải bảo đảm đúng trình tự tố tụng, phán quyết phải công bằng, công
minh như những tội phạm khác. (Điều 7 Công ước Chống tra tấn).
19
b) Tương trợ tư pháp về hình sự
Điều 9 của Công ước quy định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên cung cấp
tương trợ tư pháp trong phạm vi rộng nhất có thể để tiến hành các thủ tục tố tụng
hình sự đối với các tội phạm này. Theo đó, các quốc gia thành viên phải hỗ trợ tối
đa lẫn nhau trong quá trình tiến hành các thủ tục tố tụng hình sự đối với các tội
phạm về tra tấn, kể cả việc cung cấp tất cả những chứng cứ cần thiết cho hoạt động
tố tụng đã được quốc gia phát hiện.
Các quốc gia thành viên sẽ thực hiện nghĩa vụ phù hợp với các hiệp định
tương trợ tư pháp được ký kết giữa các quốc gia.
5. Nghĩa vụ phòng ngừa các hành vi tra tấn của quốc gia thành viên
Công ước Chống tra tấn
Để phòng ngừa các hành vi tra tấn, các quốc gia thành viên của Công ước
Chống tra tấn phải thực hiện những nghĩa vụ sau đây:
- Nghĩa vụ tuyên truyền chống tra tấn (Điều 10 Công ước)
- Bảo đảm quyền của người bị bắt, giam giữ (Điều 11 Công ước)
- Không sử dụng những lời khai là kết quả của hành vi tra tấn (Điều 15
Công ước)
- Nghĩa vụ ngăn chặn các hành vi đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân
đạo hoặc hạ nhục con người khác (Điều 16 Công ước).
a) Nghĩa vụ tuyên truyền chống tra tấn
Đảm bảo về giáo dục và thông tin đầy đủ đối với việc ngăn cấm tra tấn bao
gồm cả việc đào tạo đội ngũ nhân viên thực thi pháp luật, dân sự hoặc quân sự, các
nhân viên y tế, các quan chức nhà nước và những người khác có thể tham gia vào
việc giam giữ, thẩm vấn và đối xử với bất kỳ một cá nhân nào chịu bất cứ hình thức
bắt giữ, tạm giam và bỏ tù nào là một phương thức hiệu quả, lâu dài để phòng,
20
chống tra tấn và dần đi đến loại bỏ hành vi này. Các thành viên phải đưa việc cấm
tra tấn vào nguyên tắc, chỉ dẫn về nhiệm vụ và chức năng của những người này là
nội dung của Điều 10:
“1. Quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng việc nghiêm cấm hành vi tra tấn
phải được phổ biến và tuyên truyền đầy đủ trong các chương trình đào tạo nhân viên
thực thi pháp luật, dân sự hoặc vũ trang, nhân viên y tế, các nhân viên công quyền
và những người khác có thể liên quan đến việc bắt giữ, thẩm vấn hay xử lý đối với
các cá nhân chịu bất cứ hình thức bắt, giam giữ hoặc phạt tù nào.
2. Mỗi quốc gia thành viên phải đưa lệnh cấm này vào các quy tắc hoặc
hướng dẫn về chức năng và nhiệm vụ của những người nêu trên”.
Điều khoản này khẳng định các quốc gia thành viên phải bảo đảm giáo dục,
tuyên truyền đến tất cả các nhóm, tổ chức nghề nghiệp hoặc chuyên môn về bảo vệ
và đối xử nhân đạo đối với tù nhân. Đối tượng được giáo dục, tuyên truyền không
chỉ bao gồm các cán bộ thực thi pháp luật, mà còn bao gồm tất cả các cán bộ liên
quan trong quá trình tố tụng hình sự, những người chịu trách nhiệm đối với những
người bị giam giữ hành chính và các hình thức bị tước tự do khác. Bởi vì, chính
những đối tượng này là những người có vai trò quyết định quan trọng đến việc có
hay không hành vi tra tấn trong thực tiễn. Nếu công tác giáo dục tuyên truyền có
hiệu quả, bản thân họ có nhận thức đầy đủ về hành vi tra tấn và hậu quả của nó thì
trong quá trình thi hành nhiệm vụ họ sẽ có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh các quy
định về chống tra tấn... Nhân viên y tế một mặt phải có trách nhiệm chăm sóc sức
khoẻ cho những người bị giam giữ, mặt khác trong quá trình làm việc họ có thể
phải đối mặt đối với những nạn nhân bị tra tấn, khi đó cần thiết phải có sự công tâm
của người thầy thuốc trong việc chăm sóc thương tổn và tinh thần làm cơ sở, chứng
cứ quan trọng cho việc truy tố hành vi tra tấn của người vi phạm nếu có.
21
Khoản 2 Điều này yêu cầu quốc gia thành viên phải đưa ngay việc cấm hành
vi tra tấn vào trong các quy tắc hay chỉ dẫn liên quan tới nhiệm vụ và chức năng
của cán bộ thực thi pháp luật, nhân viên dân sự, quân sự, y tế, nhân viên công
quyền, những người có thể tham gia vào việc giam giữ, thẩm vấn hoặc đối xử khác
với bất kỳ một cá nhân nào chịu bất kỳ một hình thức bắt giữ, giam cầm nào. Đây
được coi là nghĩa vụ bắt buộc và đặc biệt quan trọng, để họ ý thức đầy đủ về trách
nhiệm và chấp hành nghiêm chỉnh trong quá trình thực thi nhiệm vụ.
b) Nghĩa vụ bảo đảm quyền của người bị bắt, giam giữ của quốc gia
thành viên Công ước chống tra tấn
Một trong những biện pháp cơ bản nhất để phòng ngừa hành vi tra tấn chính
là việc bảo đảm cho người bị bắt, giam giữ được tôn trọng các quyền hợp pháp của
mình. Điều này đã được cụ thể hóa tại Điều 11 của Công ước, cụ thể như sau:
“Nhằm ngăn chặn các hành vi tra tấn, mỗi quốc gia thành viên phải quy
định một cách có hệ thống những nguyên tắc, chỉ thị, phương pháp và thông lệ
cũng như việc bố trí giam giữ và đối xử với những người bị bắt, tạm giữ, tạm giam
hay phạt tù trong lãnh thổ thuộc thẩm quyền tài phán quốc gia”.
Theo quy định của Điều 11, quốc gia thành viên cần phải xem xét một cách
hệ thống các quy tắc, hướng dẫn và biện pháp thẩm vấn (hỏi cung, lấy lời khai),
cũng như việc bố trí giam giữ và đối xử với những người chịu bất kỳ hình thức bắt
giữ, tạm giam, phạt tù trong lãnh thổ thuộc thẩm quyền tài phán của mình nhằm
ngăn chặn sự tra tấn cũng như các hình thức đối xử tàn tệ, vô nhân đạo hay hạ thấp
nhân phẩm hoặc trừng phạt khác.
Theo Nghị quyết số 45/111 ngày 14/12/1990 của Đại hội đồng Liên hợp
quốc về “Những nguyên tắc cơ bản trong việc đối xử với tù nhân” thì: “Tất cả
những người bị giam giữ sẽ được tôn trọng đối xử đúng giá trị và nhân phẩm vốn
có của họ” và “Ngoài việc bị giam giữ - thể hiện sự giới hạn quyền tự do thân thể,
tất cả các tù nhân phải được duy trì quyền con người và các quyền tự do cơ bản
22
khác được nêu trong bản Tuyên bố chung về nhân quyền, và ở đâu mà nhà nước
liên quan là một bên trong Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hoá và còn
được thể hiện trong Nghị định thư không bắt buộc, cũng như các quyền khác nêu ra
trong các Công ước khác của Liên hợp quốc”.
c) Nghĩa vụ không sử dụng những lời khai lài kết quả của hành vi tra tấn
của quốc gia thành viên Công ước
Điều 15 của Công ước quy định:
“Quốc gia thành viên phải bảo đảm rằng những lời khai được xác định là
kết quả của hành vi tra tấn sẽ không được sử dụng làm chứng cứ trong quá trình tố
tụng, trừ trường hợp lời khai đó được sử dụng làm bằng chứng để chống lại người
bị cáo buộc đã có hành vi tra tấn”.
Đây là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động chứng minh vụ án hình sự, đòi hỏi
mọi chứng cứ thu thập được phải theo đúng trình tự, thủ tục luật định. Những lời
khai của một người thu thập được do bị tra tấn, đe doạ hay cưỡng ép... đều không
được coi là một loại chứng cứ chứng minh vụ án hình sự. Nguyên tắc này vừa
nhằm đảm bảo tính khách quan trong vụ án hình sự, bảo đảm bảo vệ các quyền con
người khỏi các hành động tra tấn, đối xử tàn bạo, tàn bạo, vô nhân đạ...
VIÊN CHỨC VÀ NHÂN DÂN VỀ NỘI DUNG CỦA CÔNG ƯỚC CHỐNG
TRA TẤN VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ PHÒNG, CHỐNG TRA TẤN
GIỚI THIỆU CÔNG ƯỚC CHỐNG TRA TẤN
VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ PHÒNG,
CHỐNG TRA TẤN
Hà Nội, năm 2022
1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
1
Công ước Chống
tra tấn
Công ước Chống tra tấn và các hình thức đối
xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc
hạ nhục con người
2
PCCC
Phòng cháy chữa cháy
3
PCTP
Phòng chống tội phạm
4
CSGT
Cảnh sát giao thông
5
VKSND
Viện Kiểm sát nhân dân
2
CHUYÊN ĐỀ 1. KHÁI NIỆM TRA TẤN
I. KHÁI NIỆM TRA TẤN
Tra tấn là gì ?
“…"Tra tấn" có nghĩa là bất kỳ hành vi nào cố ý gây đau đớn hoặc đau khổ
nghiêm trọng về thể xác hay tinh thần cho một người, nhằm mục đích thu thập
thông tin hoặc lời thú tội từ người đó hay một người thứ ba, hoặc để trừng phạt
người đó vì một hành vi mà người đó hay người thứ ba đã thực hiện hay bị nghi
ngờ đã thực hiện, hoặc để đe doạ hay ép buộc người đó hoặc người thứ ba, hoặc vì
bất kỳ một lý do nào khác dựa trên sự phân biệt đối xử dưới mọi hình thức, khi nỗi
đau đớn và đau khổ đó do một công chức hay người được sự đồng ý/ chấp
thuận/xúi giục của công chức thực hiện”1.
CÁC DẤU HIỆU CỦA HÀNH VI TRA TẤN
- Về chủ thể thực hiện hành vi tra tấn: hành vi tra tấn được thực hiện bởi
một trong hai chủ thể sau:
+ Nhân viên công quyền (cán bộ, công chức, viên chức)
+ Người khác mà được nhân viên công quyền đồng ý hoặc cho phép hoặc
xúi giục (yêu cầu) thực hiện hành vi tra tấn.
- Về mặt chủ quan: Được thực hiện với lỗi cố ý
Lỗi cố ý là trường hợp người thực hiện hành vi nhận thức rõ hành vi của
mình nguy hiểm cho xã hội hoặc sẽ gây thiệt hại, tuy nhiên vẫn mong muốn hậu
quả xảy ra hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho hậu quả xảy ra.
1
Điều 1 Công ước Chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ
nhục con người.
3
- Về hành vi khách quan: Bất cứ hành vi nào gây đau đớn hoặc đau khổ
nghiêm trọng về thể xác hay tinh thần cho một người.
Có thể là:
+ Sử dụng vũ lực tác động trực tiếp lên cơ thể con người: đánh đập, đâm
chém, dùng điện, tra hỏi liên tục, để đói, khát, ăn nhạt/mặn, bắt đứng hoặc quỳ
dưới sức nóng, bắt cởi quần áo trong trời giá rét...;
+ Bằng lời nói thô bạo tác động vào tâm lý, tinh thần, tình cảm người
khác như sỉ nhục, lăng mạ, xúc phạm người đó hoặc người thân của người đó
(như cha, mẹ, vợ, con, người thân khác hoặc đồng chí, đồng đội) làm cho họ sợ
hãi, tinh thần suy sụp.
Hậu quả là gây đau đớn và khổ sở nghiêm trọng cho cả tinh thần và thể
xác, tâm lý của người bị tra tấn.
- Về mục đích: Để lấy thông tin hoặc trừng phạt vì một việc mà người đó
đã làm vì lý do công vụ.
Ví dụ như trực tiếp tác động vào thể xác hoặc tinh thần của người bị tra
tấn để họ phải khai báo, thú nhận nhưng cũng có thể tác động vào tâm lý của
người thứ ba để họ thấy sợ hãi, lo lắng, thương xót cho người bị tra tấn mà khai
báo, thú nhận hoặc đưa ra những thông tin trái với ý muốn, suy nghĩ của họ.
Bạo lực học đường có phải hành vi
tra tấn không?
Trả lời:
Bạo lực trong học đường không phải là tra tấn, mặc dù hành vi này có thể
khiến nạn nhân bị thương tích, bị tổn thương về tinh thần.
Bởi chủ thể thực những hành vi bạo lực học đường không phải là nhân viên
công quyền của Nhà nước (cán bộ, công chức nhà nước đang thi hành công vụ)
4
hoặc người được nhân viên công quyền đồng ý/cho phép thực hiện hành vi bạo lực
với người khác. Trong khi đó bạo lực học đường do học sinh thực hiện (không phải
nhân viên công quyền; cũng không phải do nhân viên công quyền đồng ý/cho
phép). Mục đích của hành vi bạo lực học đường là mâu thuẫn cá nhân giữa các em
học sinh chứ không phải để lấy thông tin hoặc trừng phạt vì lý do công vụ.
MỘT SỐ LƯU Ý:
+ Công ước CAT loại trừ sự đau đớn hay khổ sở gây ra một cách ngẫu nhiên
hoặc sẵn có, không thể tránh khỏi bởi các hình phạt được pháp luật của quốc gia
thành viên quy định. Tuỳ theo pháp luật của các nước khác nhau, sự quy định này là
khác nhau. Nhưng nhìn chung, để ngăn chặn một hành vi phạm tội, ngăn chặn người
phạm tội bỏ trốn... pháp luật cho phép người có thẩm quyền được sử dụng vũ lực ở
một mức độ nhất định để thực thi nhiệm vụ của mình; việc áp dụng một số hình phạt
được pháp luật các quốc gia cho phép như hình phạt tử hình, hình phạt roi… không
bị coi là hành vi tra tấn.
+ Những hành vi gây ra đau đớn chỉ được coi là tra tấn khi nó được thực hiện
với mục đích nhất định, thẩm quyền nhất định. Như vậy nếu có một vụ ẩu đả, đánh
đập diễn ra trên đường phố thì dù có thể nạn nhân bị thương tích, bị xâm hại nhưng
những người thực hiện hành vi đó không theo bất kỳ một mệnh lệnh hay dưới
quyền lực của chính quyền, quân đội, tư pháp thì đó không phải là tra tấn (mà theo
pháp luật Việt Nam là hành vi cố ý gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác). Trái lại, nếu hành vi trên do một nhóm người thuộc lực lượng có thẩm
quyền thực hiện thì đó là tra tấn.
+ Tra tấn phải được thực hiện cố ý, trái ý muốn nạn nhân và khi nạn nhân
trong tình trạng không thể tự vệ được. Như vậy trong các trường hợp những sự đau
đớn nghiêm trọng được thực hiện một cách vô ý như A vô tình làm bị thương B; A
cố tình làm B bị thương và B đồng ý để cho A làm bị thương mình thì các trường
5
hợp này không phải là tra tấn. Trên thực tế tra tấn không thể xảy ra nếu không tước
bỏ quyền tự chủ của nạn nhân trong quá trình tra tấn. Tra tấn được thực hiện với
mục đích tê liệt ý chí của nạn nhân. Người thực hiện hành vi tra tấn sẽ cố ý thực
hiện việc kiểm soát đối với cơ thể và các giác quan của nạn nhân (gây ra sự đau
đớn).
+ Cần phải phân biệt tra tấn với cưỡng ép.
Tra tấn
Cưỡng ép
- Chủ thể
Công chức nhà nước
Bất kỳ người nào
- Mục đích
Lấy thông tin, trừng phạt
Bắt người bị cưỡng ép
thực hiện theo ý chí chủ
quan của người cưỡng ép
- Lỗi
Cố ý
Cố ý
- Hành vi khách quan
Sử dụng vũ lực, đe dọa
dùng vũ lực; tác động vào
tâm lý, tinh thần, tình
cảm người khác như sỉ
nhục, lăng mạ, xúc phạm
Sử dụng vũ lực, đe dọa
dùng vũ lực; tác động vào
tâm lý, tinh thần, tình
cảm người khác như đe
dọa, nêu điều kiện, chửi
mắng, bắt phải làm theo.
Ví dụ
Cán bộ điều tra dùng
nhục hình đối với người
bị tạm giữ, tạm giam để
lấy lời khai
Kẻ cướp đe dọa xâm
phạm tính mạng để một
người phải miễn cưỡng
giao tài sản.
6
II. MỘT SỐ VÍ DỤ:
Ví dụ 1:
Cảnh sát giao thông đang thực hiện nhiệm vụ tại ngã tư thì
phát hiện có 01 người không đội mũ bảo hiểm nên đã ra
hiệu lệnh yêu cầu dừng xe vào lề đường nhưng người vi
phạm không chấp hành. Cảnh sát đó đã dùng dùi cui vụt vào
tay người vi phạm. Đề nghị cho biết, hành vi của cảnh sát
có phải là tra tấn không?
Trả lời
Đây không phải là hành vi tra tấn. Mặc dù chủ thể thực hiện hành vi này là:
Cảnh sát giao thông (là công chức Nhà nước); hành vi này thực hiện với lỗi cố ý, sử
dụng vũ lực tác động trực tiếp lên người tham gia giao thông; mục đích nhằm trừng
phạt người tham gia vì họ đã không đội mũ bảo hiểm và không chấp hành hiệu lệnh
của cảnh sát.
Tuy nhiên, hành vi cảnh sát giao thông dùng dùi cui vụt vào tay không gây ra
hậu quả nghiêm trọng đến sức khỏe hay tinh thần của người vi phạm. Vậy nên đây
không phải hành vi tra tấn.
Ví dụ 2:
Ông M bị tố cáo có hành vi dâm ô trẻ em. Tại trụ sở
công an huyện, cán bộ Y đã trói chân, trói tay dùng gậy
đánh liên tiếp vào người để bắt ông M khai nhận. Hỏi
hành vi của cán bộ Y có phải là tra tấn không?
Trả lời:
Hành vi trên là tra tấn vì
7
(1) Về mặt chủ quan: Được thực hiện với lỗi cố ý.
(2) Về hành vi: Trói chân, trói tay dùng gậy đánh liên tiếp vào người
(3) Yếu tố mục đích: Lấy lời khai, thu thập thông tin, lời thú tội.
(4) Chủ thể: Là cán bộ điều tra - một nhân viên công quyền.
Ví dụ 3:
Y đang thi hành án phạt tù và thường xuyên bị K là phạm
nhân cùng phòng giam đánh đập gây tổn hại nghiêm trọng
về mặt tinh thần. Cán bộ quản lý trại giam biết việc này
nhưng không can thiệp và cho rằng đó là hành động răn đe
do Y hay vi phạm kỷ luật trong nhà giam. Hỏi hành vi của
K có phải tra tấn không?
Trả lời:
Hành vi trên là tra tấn vì
(1) Về mặt chủ quan: Được thực hiện với lỗi cố ý.
(2) Về hành vi: Đánh trực tiếp vào người
(3) Hậu quả: Gây tổn hại nghiêm trọng về mặt tinh thần.
(4) Mục đích: Trừng phạt
(5) Chủ thể: Cá nhân thực hiện hành vi trên cơ sở sự cho phép, chấp thuận,
đồng tình của cán bộ, công chức nhà nước
8
Hình phạt tử hình là hình phạt còn tồn tại ở
nhiều quốc gia (trong đó có Việt Nam). Đề
nghị cho biết, tử hình có phải là tra tấn
không?
Trả lời:
Việc áp dụng hình phạt tử hình không phải là hành vi tra tấn bởi:
Tử hình là hình phạt đặc biệt được pháp luật quy định nhằm tước
bỏ quyền sống của người bị kết án. Hình phạt tử hình được quy định
trong pháp luật quốc gia nhằm trừng trị người phạm tội và giáo dục
người khác tôn trọng pháp luật.
Công ước CAT không bắt buộc các quốc gia thành viên phải loại
bỏ hình phạt tử hình nhưng khuyến khích bỏ hình phạt tử hình trong cơ
cấu các hình phạt đối với người phạm tội.
Bạn có biết
Hành vi “tra tấn” được phân biệt với hành vi “đối xử hoặc trừng phạt
tàn bạo, vô nhâận đạo hoặc hạ nhục con người” như sau:
(1) Chủ thể:
+ Tra tấn: chủ thể thực hiện là cán bộ, công chức nhà nước hoặc cá nhân
được trao quyền thi hành công vụ; cá nhân thực hiện hành vi trên cơ sở sự cho
phép, chấp thuận, đồng tình của cán bộ, công chức nhà nước.
9
+ Đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người: Chủ
thế là bất kỳ người nào.
(2) Mức độ nghiêm trọng của tổn thương:
+ Tra tấn: Gây ra các tổn thương nghiêm trọng.
+ Đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục: Có thể gây ra
tổn thương nghiêm trọng hoặc không nghiêm trọng.
(3) Yêu cầu của Công ước đối với quốc gia thành viên
+ Tra tấn: Công ước cấm tuyệt đối (không có ngoại lệ, không được miễn trừ
trách nhiệm trong mọi trường hợp).
+ Đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người:
Công ước yêu cầu các quốc gia thành viên phải “ngăn chặn”, không được quy định
theo hướng cấm tuyệt đối (Điều 16 Công ước Chống tra tấn).
10
CHUYÊN ĐỀ 2. SỰ RA ĐỜI CỦA CÔNG ƯỚC CHỐNG
TRA TẤN VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG ƯỚC
CHỐNG TRA TẤN
I. SỰ RA ĐỜI CỦA CÔNG ƯỚC CHỐNG TRA TẤN
Công ước Chống tra
tấn được ra đời như
thế nào?
Ngày 9/12/1975, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Tuyên ngôn về bảo
vệ tất cả mọi người khỏi tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô
nhân đạo hoặc hạ nhục được (Nghị quyết 3452(XXX)). Tuyên ngôn này được coi
là điểm khởi đầu cho các nỗ lực về chống tra tấn của cộng đồng quốc tế. Cùng với
Tuyên ngôn ngày, Đại hội đồng Liên hợp quốc cũng thông qua Nghị quyết
3453(XXX) đề nghị Hội đồng Nhân quyền thực hiện các nghiên cứu cũng như các
bước cần thiết để đảm bảo thực hiện Tuyên ngôn về chống tra tấn được hiệu quả.
Hai năm sau (năm 1977), Đại hội đồng Liên hợp quốc chính thức yêu cầu Hội đồng
Nhân quyền xây dựng một bản dự thảo Công ước về chống tra tấn dựa trên các
nguyên tắc đã được ghi nhận tại Tuyên ngôn về chống tra tấn.
Ủy ban Nhân quyền đã bắt đầu công việc xây dựng dự thảo Công ước chống
tra tấn từ tháng 2-3/1978. Một nhóm chuyên gia đã được thành lập nhằm phục vụ
11
cho hoạt động thảo luận, xây dựng dự thảo Công ước và dự thảo đầu tiên đã được
đề xuất bởi Thụy Điển. Trong những năm tiếp theo, một nhóm chuyên gia khác
được thành lập để hoàn thiện nội dung dự thảo Công ước. Đến năm 1984, dự thảo
Công ước đã hoàn thiện và được chuyển để thảo luận, thông qua tại Đại hội đồng
Liên hợp quốc.
Công ước Chống tra tấn có tên đầy đủ là Công ước chống tra tấn và các hình
thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người (viết tắt
là Công ước CAT) và được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày
10/12/1984 bằng Nghị quyết 39/46. Công ước có hiệu lực từ ngày 26/6/1987 sau
khi được 20 quốc gia phê chuẩn gia nhập.
Ý NGHĨA SỰ RA ĐỜI CỦA CÔNG ƯỚC CAT
Công ước CAT là một trong 09 công ước quốc tế cơ bản về quyền
con người của Liên hợp quốc.
Đến nay, Công ước CAT đã có 166 quốc gia thành viên. Sự ra đời
và mức độ phổ biến của Công ước đã khẳng định nỗ lực, quyết tâm chung
của cộng đồng quốc tế trong cuộc đấu tranh chống tra tấn và các hình thức
đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ nhục khác trên toàn
thế giới.
Việc Đại hội đồng thông qua Công ước Chống tra tấn là sự kiện lịch
sử mang đậm dấu ấn tiến bộ của nhân loại trong nỗ lực bảo vệ con người
khỏi bị tra tấn là bước đột phá trong cuộc đấu tranh phòng, chống tra tấn
trên toàn thế giới và là công cụ hữu hiệu để loại bỏ hoàn toàn hành vi tra
tấn ra khỏi đời sống của xã hội văn minh.
12
II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG ƯỚC CHỐNG TRA TẤN
1. Nội dung cơ bản của Công ước chống tra tấn
Nội dung cơ bản của Công ước chống tra tấn bao gồm 3 phần:
Phần I (từ Điều 1 đến Điều 16)
Quy định các nghĩa vụ của quốc gia thành viên Công ước cần áp dụng trong
pháp luật quốc gia. Đây là những nội dung quan trọng nhất của Công ước.
Quy định thẩm quyềnPhần
và các
phương
hoạt
động
II (từ
Điều thức
17 đến
Điều
24)của Ủy ban chống tra
tấn, cơ quan chịu trách nhiệm giám sát việc thực thi Công ước (thông qua
việc xem xét báo cáo định kỳ của các quốc gia là thành viên, nhận khiếu nại
của các nạn nhân bị tra tấn, điều tra tình hình thực tế…).
Phần III (từ Điều 25 đến Điều 33)
Quy định về các khía cạnh kỹ thuật về ký kết, phê chuẩn Công ước, thủ tục
sửa đổi, việc bảo lưu Công ước
2. Nghĩa vụ của các quốc gia thành viên của Công ước Chống tra tấn
Nghĩa vụ của Quốc gia thành viên Công ước chống tra tấn
Nghĩa vụ
cấm các
hành vi tra
tấn
Nghĩa vụ
trừng phạt
các hành
vi tra tấn
Nghĩa vụ
ngăn
ngừa
hành vi
tra tấn
13
3. Nghĩa vụ của Quốc gia thành viên để nghiêm cấm hành vi tra tấn
Để nghiêm cấm hành vi tra tấn, các quốc gia thành viên của Công ước CAT có
những nghĩa vụ sau đây:
- Áp dụng các biện pháp lập pháp, hành pháp, tư pháp và các biện pháp khác
(Điều 2 Công ước Chống tra tấn);
- Nghĩa vụ hình sự hóa hành vi tra tấn (Điều 4 Công ước Chống tra tấn);
- Quyền tài phán (Điều 5 Công ước Chống tra tấn);
- Nghĩa vụ không trục xuất, trao trả hoặc dẫn độ (Điều 3 Công ước Chống tra
tấn).
a) Nghĩa vụ áp dụng các biện pháp lập pháp, hành pháp, tư pháp và các
biện pháp khác của quốc gia thành viên Công ước chống tra tấn
Quốc gia thành viên áp dụng các
biện pháp lập pháp, hành pháp, tư
pháp theo quy định của Công ước
chống tra tấn như thế nào?
- Về biện pháp lập pháp: Công ước quy định các quốc gia thành viên có nghĩa
vụ phải ghi nhận bằng pháp luật quyền không bị tra tấn của mọi công dân; nghiêm
cấm hành vi tra tấn và phải quy định tra tấn là một tội phạm, bị xét xử với chế tài
nghiêm khắc nhằm răn đe, ngăn ngừa hành vi tra tấn, bảo vệ tính mạng, danh dự và
nhân phẩm của con người; đồng thời, ban hành mới hoặc chỉnh sửa các quy định
hiện hành để các quy định pháp luật nội dung và tố tụng (hình thức) của quốc gia
đều đảm bảo quyền không bị tra tấn cho tất cả mọi người trên lãnh thổ quốc gia.
- Về biện pháp hành pháp: Công ước yêu cầu các quốc gia thành viên phải bảo
đảm và tôn trọng quyền không bị tra tấn, trừng phạt hay đối xử tàn bạo, vô nhân
14
đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm của mọi công dân, trong đó, đặc biệt lưu ý đến việc
xây dựng các quy chuẩn đạo đức, nghề nghiệp cho các cán bộ, viên chức; đẩy mạnh
tuyên truyền, giáo dục cho các quan chức thực thi pháp luật để triệt tiêu các vi
phạm pháp luật của các nhân viên công quyền nói chung và nhân viên hành pháp
nói riêng.
- Về biện pháp tư pháp: Công ước đòi hỏi các quốc gia thành viên phải bảo
đảm thực hiện quyền không bị tra tấn, trừng phạt hoặc đối xử tàn bạo, vô nhân đạo
hoặc hạ thấp nhân phẩm của công dân trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và
thi hành án. Đây là những hoạt động có nhiều nguy cơ xảy ra hành vi tra tấn đối với
bị can, bị cáo; người bị tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành án phạt tù. Do
đó, các hoạt động tư pháp phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật để bảo
đảm yêu cầu của Công ước; cùng đó, phải có hệ thống giám sát hiệu quả để đảm
bảo tính khách quan, chính xác và kịp thời của các hoạt động tư pháp, hạn chế đến
mức thấp nhất sự xâm hại đến quyền và lợi ích chính đáng của người dân.
- Các biện pháp khác: các biện pháp nhằm hỗ trợ, nâng cao hiệu quả của các
quy định cấm tra tấn, chẳng hạn như tuyên truyền, phổ biến pháp luật; đào tạo cán
bộ….
Khoản 2 Điều 2 Công ước khẳng định rằng, không có bất cứ một trường hợp
ngoại lệ nào, kể cả trong trường hợp một quốc gia đang trong tình trạng chiến tranh
hoặc có nguy cơ chiến tranh, hoặc có sự bất ổn định về chính trị nội bộ hoặc bất cứ
tình trạng khẩn cấp chung nào có thể biện hộ cho hành động tra tấn.
Bên cạnh đó, Công ước cũng quy định không được viện dẫn mệnh lệnh của một
sĩ quan cao cấp hoặc một cơ quan công quyền để biện minh cho hành vi tra tấn (khoản
3 Điều 2).
15
b) Nghĩa vụ hình sự hóa hành vi tra tấn
Theo Công ước Chống tra tấn,
nghĩa vụ hình sự hóa các hành
vi tra tấn được hiểu như thế
nào?
Nhằm mục đích nghiêm cấm triệt để các hành vi tra tấn, Công ước quy định
nghĩa vụ của các quốc gia thành viên phải hình sự hóa hành vi này để có thể áp
dụng những hình phạt thích đáng, nhằm trừng phạt những người thực hiện hành vi
tra tấn. Nội dung này được quy định tại Điều 4 như sau:
“1. Các quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng mọi hành vi tra tấn đều là tội
phạm theo pháp luật hình sự của nước đó. Quy định này cũng phải áp dụng đối với
những hành vi chuẩn bị thực hiện việc tra tấn và hành vi đồng phạm hoặc tham gia
vào việc tra tấn.
2. Các quốc gia thành viên phải trừng trị những tội phạm này bằng những hình
phạt thích đáng tương ứng với tính chất nghiêm trọng của hành vi”.
Điều này yêu cầu các quốc gia thành viên phải bảo đảm rằng mọi hành vi tra
tấn đều bị coi là tội phạm và bị truy cứu trách nhiệm hình sự với khung hình phạt
nghiêm khắc. Theo đó, bất kỳ nhân viên công quyền hoặc người không phải là nhân
viên công quyền nhưng được sự đồng ý hay chấp thuận của một nhân viên công
16
quyền hoặc một người khác có quyền lực như một nhân viên công quyền trong khi
thực thi công vụ mà trực tiếp hoặc gián tiếp gây đau đớn về thể xác hoặc tinh thần
cho người khác với mục đích để lấy thông tin, trừng phạt, gây hoảng sợ, cưỡng bức
hoặc vì lý do phân biệt đối xử đều trở thành chủ thể của hành vi tra tấn và đều bị truy
cứu trách nhiệm hình sự. Với quy định này, Công ước yêu cầu phạm vi hình sự hoá
tương đối rộng, không chỉ hạn chế trong phạm vi hoạt động tố tụng hình sự mà về lý
thuyết, hành vi tra tấn có thể xảy ra trong tất cả hoạt động có mang tính thực thi công
quyền.
c) Quyền tài phán của quốc gia thành viên Công ước chống tra tấn
Điều 5 của Công ước Chống tra tấn quy định các quốc gia cần phải có cơ chế
để bảo đảm việc xét xử các tội phạm về tra tấn sẽ được thực hiện trong phạm vi
rộng nhất có thể, cụ thể như sau:
“1. Mỗi quốc gia thành viên phải thực hiện những biện pháp cần thiết để thiết
lập quyền tài phán của mình đối với những tội phạm quy định tại Điều 4 trong
những trường hợp sau đây:
a) Khi tội phạm được thực hiện trên lãnh thổ thuộc phạm vi quyền tài phán
quốc gia hoặc trên tàu bay hoặc tàu thuyền đã đăng ký ở quốc gia đó;
b) Khi người bị tình nghi phạm tội là công dân của quốc gia đó;
c) Khi nạn nhân là công dân của quốc gia đó nếu quốc gia đó thấy phù hợp.
2. Mỗi quốc gia thành viên cũng phải thực hiện những biện pháp cần thiết để
thiết lập quyền tài phán của mình đối với những tội phạm nêu trên trong trường
hợp người bị tình nghi phạm tội đang có mặt trên bất cứ vùng lãnh thổ thuộc phạm
vi quyền tài phán của quốc gia và không thực hiện việc dẫn độ người này theo quy
định tại Điều 8 đến bất kỳ quốc gia nào được quy định trong khoản 1 của Điều này.
3. Công ước này không loại trừ các quyền tài phán hình sự được thực thi/áp
dụng theo pháp luật quốc gia”.
17
Theo quy định nói trên, các quốc gia có hai sự lựa chọn là: (i) thiết lập quyền tài
phán trên cơ sở quy định của Công ước; hoặc (ii) áp dụng theo pháp luật quốc gia.
Trong 166 quốc gia thành viên của Công ước tính đến thời điểm hiện tại, hầu hết các
quốc gia đều quy định về quyền tài phán theo như quy định tại Điều 5 Công ước
(Việt Nam cũng nằm trong số này). Tuy vậy, việc xác lập quyền tài phán của các
quốc gia khác nhau có thể khác nhau.
Hành vi tra tấn bị cấm tuyệt đối, do đó, hiện nay, thế giới đang công nhận tra
tấn là một tội phạm thuộc phạm vi tài phán phổ quát.
Thẩm quyền phổ quát thường được mô tả như khả năng truy tố người có mặt
trên lãnh thổ của một quốc gia về tội phạm thực hiện bên ngoài lãnh thổ của quốc
gia đó mà không có mối liên hệ với quốc gia đó về quốc tịch của người bị tình nghi
hoặc của người bị hại hoặc bởi việc gây nguy hại cho lợi ích của quốc gia đó. Công
ước Chống tra tấn là điều ước quốc tế đầu tiên quy định về quyền tài phán phổ quát
đối với các tội phạm tra tấn ngoài phạm vi của một cuộc xung đột vũ trang.
d) Nghĩa vụ không trục xuất, trao trả hoặc dẫn độ trong Công ước Chống
tra tấn
Điều 3 của Công ước cũng đồng thời yêu cầu các quốc gia phải ngăn ngừa khả
năng hành vi này sẽ được thực hiện đối với những người bị trục xuất, trao trả hoặc
dẫn độ từ quốc gia mình, cụ thể là:
“1. Các quốc gia thành viên không được trục xuất, trao trả hoặc dẫn độ một
người cho một quốc gia khác nếu có đủ căn cứ để cho rằng người này có nguy cơ
phải chịu sự tra tấn ở quốc gia đó.
2. Để xác định có hay không tồn tại các căn cứ trên, các cơ quan có thẩm
quyền phải xem xét mọi yếu tố có liên quan, bao gồm cả, tình trạng xâm phạm
quyền con người một cách trắng trợn, thô bạo, thường xuyên hoặc trên diện rộng ở
quốc gia có liên quan, nếu có thể.”
18
Theo Công ước, quốc gia thành viên không được trục xuất, dẫn độ, trao trả
một người trở lại một nước mà ở đó người bị dẫn độ, trao trả, trục xuất có nguy cơ
bị tra tấn. Điều giới hạn này chỉ áp dụng trong trường hợp có cơ sở chắc chắn để tin
rằng người bị dẫn độ, trục xuất, trao trả có thể bị nguy hiểm do nguy cơ bị tra tấn.
"Trục xuất" được dùng trong tình huống đối tượng nhập cảnh một cách hợp
pháp nhưng sau đó bị buộc rời khỏi lãnh thổ, còn "trao trả" dùng trong tình huống
đối tượng nhập cảnh bất hợp pháp.
“Dẫn độ” là hành vi cơ quan có thẩm quyền của một quốc gia trao người cho
cơ quan có thẩm quyền của quốc gia khác nhằm mục đích xét xử hoặc thi hành án,
trong khi người bị trục xuất không bị trao cho cơ quan có thẩm quyền của nước
khác và về nguyên tắc, người bị trục xuất có thể chọn quốc gia đến.
4. Nghĩa vụ trừng trị hành vi tra tấn của Quốc gia thành viên theo
Công ước Chống tra tấn
Nghĩa vụ trừng trị hành vi tra tấn gồm:
a) Hoặc dẫn độ hoặc truy tố:
Điều 8 của Công ước quy định trách nhiệm của các quốc gia thành viên cần
phải quy định hành vi tra tấn là một hành vi tội phạm hình sự và cần phải coi đó là
một tội trong các tội được dẫn độ. Điều này có thể được quy định trong pháp luật
quốc gia hoặc trong các điều ước quốc tế song phương về dẫn độ giữa các thành
viên của Công ước.
Trường hợp quốc gia thành viên không thực hiện dẫn độ thì theo nguyên tắc
“hoặc dẫn độ, hoặc truy tố”, quốc gia thành viên phải tiến hành tố tụng theo thẩm
quyền của quốc gia mình, việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với tội
phạm này phải bảo đảm đúng trình tự tố tụng, phán quyết phải công bằng, công
minh như những tội phạm khác. (Điều 7 Công ước Chống tra tấn).
19
b) Tương trợ tư pháp về hình sự
Điều 9 của Công ước quy định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên cung cấp
tương trợ tư pháp trong phạm vi rộng nhất có thể để tiến hành các thủ tục tố tụng
hình sự đối với các tội phạm này. Theo đó, các quốc gia thành viên phải hỗ trợ tối
đa lẫn nhau trong quá trình tiến hành các thủ tục tố tụng hình sự đối với các tội
phạm về tra tấn, kể cả việc cung cấp tất cả những chứng cứ cần thiết cho hoạt động
tố tụng đã được quốc gia phát hiện.
Các quốc gia thành viên sẽ thực hiện nghĩa vụ phù hợp với các hiệp định
tương trợ tư pháp được ký kết giữa các quốc gia.
5. Nghĩa vụ phòng ngừa các hành vi tra tấn của quốc gia thành viên
Công ước Chống tra tấn
Để phòng ngừa các hành vi tra tấn, các quốc gia thành viên của Công ước
Chống tra tấn phải thực hiện những nghĩa vụ sau đây:
- Nghĩa vụ tuyên truyền chống tra tấn (Điều 10 Công ước)
- Bảo đảm quyền của người bị bắt, giam giữ (Điều 11 Công ước)
- Không sử dụng những lời khai là kết quả của hành vi tra tấn (Điều 15
Công ước)
- Nghĩa vụ ngăn chặn các hành vi đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân
đạo hoặc hạ nhục con người khác (Điều 16 Công ước).
a) Nghĩa vụ tuyên truyền chống tra tấn
Đảm bảo về giáo dục và thông tin đầy đủ đối với việc ngăn cấm tra tấn bao
gồm cả việc đào tạo đội ngũ nhân viên thực thi pháp luật, dân sự hoặc quân sự, các
nhân viên y tế, các quan chức nhà nước và những người khác có thể tham gia vào
việc giam giữ, thẩm vấn và đối xử với bất kỳ một cá nhân nào chịu bất cứ hình thức
bắt giữ, tạm giam và bỏ tù nào là một phương thức hiệu quả, lâu dài để phòng,
20
chống tra tấn và dần đi đến loại bỏ hành vi này. Các thành viên phải đưa việc cấm
tra tấn vào nguyên tắc, chỉ dẫn về nhiệm vụ và chức năng của những người này là
nội dung của Điều 10:
“1. Quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng việc nghiêm cấm hành vi tra tấn
phải được phổ biến và tuyên truyền đầy đủ trong các chương trình đào tạo nhân viên
thực thi pháp luật, dân sự hoặc vũ trang, nhân viên y tế, các nhân viên công quyền
và những người khác có thể liên quan đến việc bắt giữ, thẩm vấn hay xử lý đối với
các cá nhân chịu bất cứ hình thức bắt, giam giữ hoặc phạt tù nào.
2. Mỗi quốc gia thành viên phải đưa lệnh cấm này vào các quy tắc hoặc
hướng dẫn về chức năng và nhiệm vụ của những người nêu trên”.
Điều khoản này khẳng định các quốc gia thành viên phải bảo đảm giáo dục,
tuyên truyền đến tất cả các nhóm, tổ chức nghề nghiệp hoặc chuyên môn về bảo vệ
và đối xử nhân đạo đối với tù nhân. Đối tượng được giáo dục, tuyên truyền không
chỉ bao gồm các cán bộ thực thi pháp luật, mà còn bao gồm tất cả các cán bộ liên
quan trong quá trình tố tụng hình sự, những người chịu trách nhiệm đối với những
người bị giam giữ hành chính và các hình thức bị tước tự do khác. Bởi vì, chính
những đối tượng này là những người có vai trò quyết định quan trọng đến việc có
hay không hành vi tra tấn trong thực tiễn. Nếu công tác giáo dục tuyên truyền có
hiệu quả, bản thân họ có nhận thức đầy đủ về hành vi tra tấn và hậu quả của nó thì
trong quá trình thi hành nhiệm vụ họ sẽ có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh các quy
định về chống tra tấn... Nhân viên y tế một mặt phải có trách nhiệm chăm sóc sức
khoẻ cho những người bị giam giữ, mặt khác trong quá trình làm việc họ có thể
phải đối mặt đối với những nạn nhân bị tra tấn, khi đó cần thiết phải có sự công tâm
của người thầy thuốc trong việc chăm sóc thương tổn và tinh thần làm cơ sở, chứng
cứ quan trọng cho việc truy tố hành vi tra tấn của người vi phạm nếu có.
21
Khoản 2 Điều này yêu cầu quốc gia thành viên phải đưa ngay việc cấm hành
vi tra tấn vào trong các quy tắc hay chỉ dẫn liên quan tới nhiệm vụ và chức năng
của cán bộ thực thi pháp luật, nhân viên dân sự, quân sự, y tế, nhân viên công
quyền, những người có thể tham gia vào việc giam giữ, thẩm vấn hoặc đối xử khác
với bất kỳ một cá nhân nào chịu bất kỳ một hình thức bắt giữ, giam cầm nào. Đây
được coi là nghĩa vụ bắt buộc và đặc biệt quan trọng, để họ ý thức đầy đủ về trách
nhiệm và chấp hành nghiêm chỉnh trong quá trình thực thi nhiệm vụ.
b) Nghĩa vụ bảo đảm quyền của người bị bắt, giam giữ của quốc gia
thành viên Công ước chống tra tấn
Một trong những biện pháp cơ bản nhất để phòng ngừa hành vi tra tấn chính
là việc bảo đảm cho người bị bắt, giam giữ được tôn trọng các quyền hợp pháp của
mình. Điều này đã được cụ thể hóa tại Điều 11 của Công ước, cụ thể như sau:
“Nhằm ngăn chặn các hành vi tra tấn, mỗi quốc gia thành viên phải quy
định một cách có hệ thống những nguyên tắc, chỉ thị, phương pháp và thông lệ
cũng như việc bố trí giam giữ và đối xử với những người bị bắt, tạm giữ, tạm giam
hay phạt tù trong lãnh thổ thuộc thẩm quyền tài phán quốc gia”.
Theo quy định của Điều 11, quốc gia thành viên cần phải xem xét một cách
hệ thống các quy tắc, hướng dẫn và biện pháp thẩm vấn (hỏi cung, lấy lời khai),
cũng như việc bố trí giam giữ và đối xử với những người chịu bất kỳ hình thức bắt
giữ, tạm giam, phạt tù trong lãnh thổ thuộc thẩm quyền tài phán của mình nhằm
ngăn chặn sự tra tấn cũng như các hình thức đối xử tàn tệ, vô nhân đạo hay hạ thấp
nhân phẩm hoặc trừng phạt khác.
Theo Nghị quyết số 45/111 ngày 14/12/1990 của Đại hội đồng Liên hợp
quốc về “Những nguyên tắc cơ bản trong việc đối xử với tù nhân” thì: “Tất cả
những người bị giam giữ sẽ được tôn trọng đối xử đúng giá trị và nhân phẩm vốn
có của họ” và “Ngoài việc bị giam giữ - thể hiện sự giới hạn quyền tự do thân thể,
tất cả các tù nhân phải được duy trì quyền con người và các quyền tự do cơ bản
22
khác được nêu trong bản Tuyên bố chung về nhân quyền, và ở đâu mà nhà nước
liên quan là một bên trong Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hoá và còn
được thể hiện trong Nghị định thư không bắt buộc, cũng như các quyền khác nêu ra
trong các Công ước khác của Liên hợp quốc”.
c) Nghĩa vụ không sử dụng những lời khai lài kết quả của hành vi tra tấn
của quốc gia thành viên Công ước
Điều 15 của Công ước quy định:
“Quốc gia thành viên phải bảo đảm rằng những lời khai được xác định là
kết quả của hành vi tra tấn sẽ không được sử dụng làm chứng cứ trong quá trình tố
tụng, trừ trường hợp lời khai đó được sử dụng làm bằng chứng để chống lại người
bị cáo buộc đã có hành vi tra tấn”.
Đây là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động chứng minh vụ án hình sự, đòi hỏi
mọi chứng cứ thu thập được phải theo đúng trình tự, thủ tục luật định. Những lời
khai của một người thu thập được do bị tra tấn, đe doạ hay cưỡng ép... đều không
được coi là một loại chứng cứ chứng minh vụ án hình sự. Nguyên tắc này vừa
nhằm đảm bảo tính khách quan trong vụ án hình sự, bảo đảm bảo vệ các quyền con
người khỏi các hành động tra tấn, đối xử tàn bạo, tàn bạo, vô nhân đạ...
 





