Ý nghĩa của sách trong cuộc sống
Ngữ văn 9. Bài 11. Bếp lửa

- 0 / 0
Nguồn: GV: Trần Thị Việt Hà
Người gửi: Lê Thị Thẩm
Ngày gửi: 15h:46' 20-02-2024
Dung lượng: 37.1 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Lê Thị Thẩm
Ngày gửi: 15h:46' 20-02-2024
Dung lượng: 37.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Tiết 53: BẾP LỬA
(Bằng Việt)
BẾP LỬA
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!
Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
Mẹ cùng cha công tác bận không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?
Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh:
“ Bố ở chiến khu bố còn việc bố
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên”
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng….
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!
Giờ cháu đã đi xa có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?
I. Tìm hiểu chung:
1. Tác giả:
- Tên thật: Nguyễn Việt Bằng
- Sinh năm 1941 – Thạch Thất - Hà Tây
- Thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ.
- Phong cách thơ: trầm lắng suy tư, mượt mà trong sáng.
- Giọng thơ của ông mượt mà trong trẻo, khai thác những kỉ niệm và
mơ ước của tuổi trẻ nên rất gần gũi và thân quen.
- Tác phẩm chính: Hương cây - Bếp lửa, Bếp lửa khoảng trời...
2. Tác phẩm:
- Hoàn cảnh ra đời: 1963, khi tác giả đang là sinh viên học Luật ở nước ngoài.
- Xuất xứ: trích trong tập “ Hương cây – Bếp lửa” ( in năm 1968 ).
- Thể thơ: tự do
- Bố cục: 4 phần
+ Phần 1: Từ đầu ... nắng mưa : Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cảm xúc nhớ bà.
+ Phần 2: Tiếp ... dai dẳng: Dòng hồi tưởng kỉ niệm thời thơ ấu bên bà.
+ Phần 3: Tiếp ... bếp lửa : Suy ngẫm về cuộc đời bà
+ Phần 4: còn lại: Niềm thương nhớ bà.
- Mạch cảm xúc: Bếp lửa gợi những kỉ niệm tuổi thơ với bà và cảm nhận vẻ
đẹp của bà suy ngẫm về bà, về người phụ nữ Việt Nam nỗi nhớ về bà khôn
nguôi
II. Tìm hiểu văn bản:
1. Những hồi tưởng về bà và tình bà cháu.
- Điệp ngữ: Một bếp lửa gần gũi,bình dị.
- Từ láy:
+ “chờn vờn” (tả thực) vừa gợi cái mờ mờ của ký ức tuổi thơ theo thời gian
+ “ấp iu” gợi nhớ đến bàn tay kiên nhẫn, nâng niu, khéo léo và tấm lòng
chi chút của bà.
- Thành ngữ, cách nói ẩn dụ: biết mấy nắng mưa sự vất vả của cuộc đời
bà.
Bếp lửa khơi nguồn cho dòng hồi tưởng cảm xúc về bà. Bếp lửa bình dị,
thân thuộc; người bà vất vả, lo toan và đầy tình yêu thương.
ĐOẠN PHIM NẠN ĐÓI NĂM ẤT DẬU
“Năm
Ất Dậu tháng ba còn nhớ mãi
Giống Lạc Hồng cực trải lắm đau thương!
Những thây ma thất thểu đầy đường,
Rồi gục ngã không đứng lên vì đói”
* Kỉ niệm năm 4 tuổi:
- Đói mòn, đói mỏi: hình ảnh tả thực, miêu tả rõ nét nhất về nạn đói.
- Khói hun nhèm mắt: khói hun nhèm mắt, sống mũi còn cay.
Tuổi thơ có nhiều nhọc nhằn thiếu thốn, vất vả, gian nan, đói khổ nhưng
hạnh phúc vì có bà và có bàn tay bà chăm sóc.
* Khi cháu 8 tuổi:
- Cùng bà nhóm bếp, được bà kể chuyện, bà bảo, bà dạy, bà chăm Tình
bà tha thiết, yêu thương, chăm sóc, dạy bảo cháu.
(Điệp từ, liệt kê,dùng nhiều động từ) bà yêu thương, đùm bọc che chở
dạy dỗ và là chỗ dựa tinh thần cho cháu.
- Tiếng chim tu hú: (điệp ngữ) → Tiếng kêu giục giã khắc khoải, da diết,
gợi hoài niệm nhớ mong:
* Kỉ niệm về năm giặc đốt làng:
- Giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi: ngọn lửa hung tàn, hủy diệt của chiến
tranh Bà cháu cũng là nạn nhân của chiến tranh.
- Bà con hàng xóm đỡ đần Trong bom đạn chiến tranh ngời lên vẻ đẹp
tình đoàn kết xóm làng.
- Lời dặn của bà với cháu người mẹ Việt Nam yêu nước đầy lòng hy
sinh.
Bà là hậu phương lớn, là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho con cháu
Bà là người giàu đức hy sinh
2. Những suy ngẫm về bà và hình ảnh bếp lửa:
a. Suy ngẫm về bà:
- Thời gian: sớm, chiều : bền bỉ, không đứt gẫy
- Bếp lửa chuyển hóa thành ngọn lửa: ngọn lửa của tình yêu thương vô bờ
bến, lửa của niềm tin bất diệt, lửa mà bà thắp lên trong tâm hồn cháu.
- Điệp từ “nhóm”:
+ Nhóm bếp lửa: nhóm ngọn lửa, ánh sáng và hơi ấm có thật
+ Nhóm niềm yêu thương...: nhóm lên tình yêu thương, sự ấm no, hạnh
phúc trong gia đình
+ Nhóm ...chung vui: nhóm lên niềm vui sưởi ấm, san sẻ và mở rộng tấm
lòng gắn bó với làng xóm quê hương.
+ Nhóm tâm tình...: nhóm lên lòng tin, ước mơ, hoài bão của cháu về
tương lai
Khơi dậy trong cháu những tâm tình, những điều thiêng liêng, kì diệu,
nâng bước cháu trên suốt chặng đường dài
Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa –
ngọn lửa của sự sống niềm tin cho các thế hệ nối tiếp.
? Vì sao tác giả đi tới khẳng định ngợi ca: “Ôi kì lạ và thiêng
liêng – bếp lửa !”?
Vì bếp lửa giản dị bình thường phổ biến trong mọi gia
đình Việt Nam nhung bếp lửa cũng thật cao quý kỳ
diệu và thiêng liêng vì nó gắn liền với bà – người
nhóm lửa, giữ lửa, truyền lửa, người tạo lên tuổi thơ
của cháu. Bếp lửa trở thành một mảnh tâm hồn, một
phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của
cháu.
Tại sao khi nhắc đến bếp lửa là người cháu nhớ đến bà, và
ngược lại, khi nhớ về bà là nhớ ngay đến hình ảnh bếp lửa ?
Vì bà luôn là người nhóm lên bếp lửa mỗi sáng, mỗi
chiều và suốt cả cuộc đời bà, trong mọi cảnh ngộ, từ
những ngày gian khó đến những lúc yên vui.
Bếp lửa là biểu hiện đầy gợi cảm về sự tảo tần ,chăm
sóc, yêu tương mà bà dành cho cháu. Bếp lửa là tình bà
ấm nồng, là tay bà chăm chút. Bếp lủa gắn với cuộc đời
bà, gắn với tình yêu thương bà dành cho con cháu và
mọi người.
b. Suy ngẫm về bếp lửa:
“Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa”
+ Kỳ lạ: Vì không gì có thể dập tắt được bếp lửa. Bếp lửa vẫn cháy lên
trong mọi cảnh ngộ.
+ Thiêng liêng: Bếp lửa là hình ảnh người bà than thương, là tổ ấm, là cội
nguồn gia đình, là cội nguồn quê hương đất nước.
+ Qua hình ảnh bếp lửa cháu hiểu thêm về bà, về dân tộc và nhân dân của
mình: tần tảo, chịu thương chịu khó, giàu tình yêu thương và đức hi sinh,
biết đồng cảm, san sẻ.
+ Hình ảnh bếp lửa được nhắc tới 10 lần cùng với sự hiện diện của bà càng
khẳng định vẻ đẹp muôn thuở của người phụ nữ Việt Nam: tần tảo, nhẫn
nại, đầy yêu thương.
Lòng biết ơn sâu sắc của cháu đối với bà
3. Nỗi nhớ của người cháu về bà và bếp lửa.
- Điệp từ: “Trăm” khẳng định thế giới rộng lớn, với những điều mới mẻ.
- Câu hỏi tu từ: “Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?” Không thể nào
quên được bếp lửa, tình cảm của bà.
Những gì là thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người đều có sức tỏa
sáng, nâng đỡ con người suốt hành trình trình dài rộng của cuộc đời.
Tình yêu thương và lòng biết ơn chính là một biểu hiện cụ thể của
tình yêu thương, sự gắn bó với gia đình, quê hương và đó cũng là sự
khởi đầu của tình yêu con người, tình yêu đất nước.
III. Tổng kết:
1.NT :
- Xây dựng hình ảnh thơ vừa cụ thể, gần gũi, vừa gợi nhiều liên
tưởng, mang ý nghĩa biểu tượng.
- Viết theo thể thơ 8 chữ phù hợp với giọng điệu cảm xúc hồi tưởng và
suy ngẫm.
- Kết hợp nhuần nhuyễn giữa miêu tả, tự sự, nghị luận và biểu cảm.
2. ND: SGK.
3.Ý nghĩa:
- Từ những kỉ niệm tuổi thơ ấm áp tình bà cháu, nhà thơ cho ta hiểu
thêm về những người bà, những người mẹ, về nhân dân nghĩa tình.
Nhà thơ Bằng Việt tâm sự: “Trong cả hai cuộc Kháng
chiến, chống Pháp và chống Mỹ, có lẽ vai trò của những
người bà, người mẹ, người chị... như thế là không có gì
thay thế nổi. Và có thể nói không ngoa rằng chính những
con người hiền hoà, nhân hậu, khiêm nhường ấy đã cùng
nhau gánh cả cuộc Kháng chiến lên trên đôi vai gầy guộc,
bé nhỏ của mình. Tôi tự hào dù chỉ làm được một chút gì an
ủi những năm đằng đẵng vất vả, dài dăc ấy của bà, như
tiếng chim tu hú cộng hưởng với nỗi cô đơn lo toan của bà,
gắng làm cho bà đươc nhẹ nhõm hơn, bớt cảm giác cô đơn,
lận đận hơn.
(Bằng Việt)
BẾP LỬA
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!
Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
Mẹ cùng cha công tác bận không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?
Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh:
“ Bố ở chiến khu bố còn việc bố
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên”
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng….
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!
Giờ cháu đã đi xa có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?
I. Tìm hiểu chung:
1. Tác giả:
- Tên thật: Nguyễn Việt Bằng
- Sinh năm 1941 – Thạch Thất - Hà Tây
- Thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ.
- Phong cách thơ: trầm lắng suy tư, mượt mà trong sáng.
- Giọng thơ của ông mượt mà trong trẻo, khai thác những kỉ niệm và
mơ ước của tuổi trẻ nên rất gần gũi và thân quen.
- Tác phẩm chính: Hương cây - Bếp lửa, Bếp lửa khoảng trời...
2. Tác phẩm:
- Hoàn cảnh ra đời: 1963, khi tác giả đang là sinh viên học Luật ở nước ngoài.
- Xuất xứ: trích trong tập “ Hương cây – Bếp lửa” ( in năm 1968 ).
- Thể thơ: tự do
- Bố cục: 4 phần
+ Phần 1: Từ đầu ... nắng mưa : Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cảm xúc nhớ bà.
+ Phần 2: Tiếp ... dai dẳng: Dòng hồi tưởng kỉ niệm thời thơ ấu bên bà.
+ Phần 3: Tiếp ... bếp lửa : Suy ngẫm về cuộc đời bà
+ Phần 4: còn lại: Niềm thương nhớ bà.
- Mạch cảm xúc: Bếp lửa gợi những kỉ niệm tuổi thơ với bà và cảm nhận vẻ
đẹp của bà suy ngẫm về bà, về người phụ nữ Việt Nam nỗi nhớ về bà khôn
nguôi
II. Tìm hiểu văn bản:
1. Những hồi tưởng về bà và tình bà cháu.
- Điệp ngữ: Một bếp lửa gần gũi,bình dị.
- Từ láy:
+ “chờn vờn” (tả thực) vừa gợi cái mờ mờ của ký ức tuổi thơ theo thời gian
+ “ấp iu” gợi nhớ đến bàn tay kiên nhẫn, nâng niu, khéo léo và tấm lòng
chi chút của bà.
- Thành ngữ, cách nói ẩn dụ: biết mấy nắng mưa sự vất vả của cuộc đời
bà.
Bếp lửa khơi nguồn cho dòng hồi tưởng cảm xúc về bà. Bếp lửa bình dị,
thân thuộc; người bà vất vả, lo toan và đầy tình yêu thương.
ĐOẠN PHIM NẠN ĐÓI NĂM ẤT DẬU
“Năm
Ất Dậu tháng ba còn nhớ mãi
Giống Lạc Hồng cực trải lắm đau thương!
Những thây ma thất thểu đầy đường,
Rồi gục ngã không đứng lên vì đói”
* Kỉ niệm năm 4 tuổi:
- Đói mòn, đói mỏi: hình ảnh tả thực, miêu tả rõ nét nhất về nạn đói.
- Khói hun nhèm mắt: khói hun nhèm mắt, sống mũi còn cay.
Tuổi thơ có nhiều nhọc nhằn thiếu thốn, vất vả, gian nan, đói khổ nhưng
hạnh phúc vì có bà và có bàn tay bà chăm sóc.
* Khi cháu 8 tuổi:
- Cùng bà nhóm bếp, được bà kể chuyện, bà bảo, bà dạy, bà chăm Tình
bà tha thiết, yêu thương, chăm sóc, dạy bảo cháu.
(Điệp từ, liệt kê,dùng nhiều động từ) bà yêu thương, đùm bọc che chở
dạy dỗ và là chỗ dựa tinh thần cho cháu.
- Tiếng chim tu hú: (điệp ngữ) → Tiếng kêu giục giã khắc khoải, da diết,
gợi hoài niệm nhớ mong:
* Kỉ niệm về năm giặc đốt làng:
- Giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi: ngọn lửa hung tàn, hủy diệt của chiến
tranh Bà cháu cũng là nạn nhân của chiến tranh.
- Bà con hàng xóm đỡ đần Trong bom đạn chiến tranh ngời lên vẻ đẹp
tình đoàn kết xóm làng.
- Lời dặn của bà với cháu người mẹ Việt Nam yêu nước đầy lòng hy
sinh.
Bà là hậu phương lớn, là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho con cháu
Bà là người giàu đức hy sinh
2. Những suy ngẫm về bà và hình ảnh bếp lửa:
a. Suy ngẫm về bà:
- Thời gian: sớm, chiều : bền bỉ, không đứt gẫy
- Bếp lửa chuyển hóa thành ngọn lửa: ngọn lửa của tình yêu thương vô bờ
bến, lửa của niềm tin bất diệt, lửa mà bà thắp lên trong tâm hồn cháu.
- Điệp từ “nhóm”:
+ Nhóm bếp lửa: nhóm ngọn lửa, ánh sáng và hơi ấm có thật
+ Nhóm niềm yêu thương...: nhóm lên tình yêu thương, sự ấm no, hạnh
phúc trong gia đình
+ Nhóm ...chung vui: nhóm lên niềm vui sưởi ấm, san sẻ và mở rộng tấm
lòng gắn bó với làng xóm quê hương.
+ Nhóm tâm tình...: nhóm lên lòng tin, ước mơ, hoài bão của cháu về
tương lai
Khơi dậy trong cháu những tâm tình, những điều thiêng liêng, kì diệu,
nâng bước cháu trên suốt chặng đường dài
Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa –
ngọn lửa của sự sống niềm tin cho các thế hệ nối tiếp.
? Vì sao tác giả đi tới khẳng định ngợi ca: “Ôi kì lạ và thiêng
liêng – bếp lửa !”?
Vì bếp lửa giản dị bình thường phổ biến trong mọi gia
đình Việt Nam nhung bếp lửa cũng thật cao quý kỳ
diệu và thiêng liêng vì nó gắn liền với bà – người
nhóm lửa, giữ lửa, truyền lửa, người tạo lên tuổi thơ
của cháu. Bếp lửa trở thành một mảnh tâm hồn, một
phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của
cháu.
Tại sao khi nhắc đến bếp lửa là người cháu nhớ đến bà, và
ngược lại, khi nhớ về bà là nhớ ngay đến hình ảnh bếp lửa ?
Vì bà luôn là người nhóm lên bếp lửa mỗi sáng, mỗi
chiều và suốt cả cuộc đời bà, trong mọi cảnh ngộ, từ
những ngày gian khó đến những lúc yên vui.
Bếp lửa là biểu hiện đầy gợi cảm về sự tảo tần ,chăm
sóc, yêu tương mà bà dành cho cháu. Bếp lửa là tình bà
ấm nồng, là tay bà chăm chút. Bếp lủa gắn với cuộc đời
bà, gắn với tình yêu thương bà dành cho con cháu và
mọi người.
b. Suy ngẫm về bếp lửa:
“Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa”
+ Kỳ lạ: Vì không gì có thể dập tắt được bếp lửa. Bếp lửa vẫn cháy lên
trong mọi cảnh ngộ.
+ Thiêng liêng: Bếp lửa là hình ảnh người bà than thương, là tổ ấm, là cội
nguồn gia đình, là cội nguồn quê hương đất nước.
+ Qua hình ảnh bếp lửa cháu hiểu thêm về bà, về dân tộc và nhân dân của
mình: tần tảo, chịu thương chịu khó, giàu tình yêu thương và đức hi sinh,
biết đồng cảm, san sẻ.
+ Hình ảnh bếp lửa được nhắc tới 10 lần cùng với sự hiện diện của bà càng
khẳng định vẻ đẹp muôn thuở của người phụ nữ Việt Nam: tần tảo, nhẫn
nại, đầy yêu thương.
Lòng biết ơn sâu sắc của cháu đối với bà
3. Nỗi nhớ của người cháu về bà và bếp lửa.
- Điệp từ: “Trăm” khẳng định thế giới rộng lớn, với những điều mới mẻ.
- Câu hỏi tu từ: “Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?” Không thể nào
quên được bếp lửa, tình cảm của bà.
Những gì là thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người đều có sức tỏa
sáng, nâng đỡ con người suốt hành trình trình dài rộng của cuộc đời.
Tình yêu thương và lòng biết ơn chính là một biểu hiện cụ thể của
tình yêu thương, sự gắn bó với gia đình, quê hương và đó cũng là sự
khởi đầu của tình yêu con người, tình yêu đất nước.
III. Tổng kết:
1.NT :
- Xây dựng hình ảnh thơ vừa cụ thể, gần gũi, vừa gợi nhiều liên
tưởng, mang ý nghĩa biểu tượng.
- Viết theo thể thơ 8 chữ phù hợp với giọng điệu cảm xúc hồi tưởng và
suy ngẫm.
- Kết hợp nhuần nhuyễn giữa miêu tả, tự sự, nghị luận và biểu cảm.
2. ND: SGK.
3.Ý nghĩa:
- Từ những kỉ niệm tuổi thơ ấm áp tình bà cháu, nhà thơ cho ta hiểu
thêm về những người bà, những người mẹ, về nhân dân nghĩa tình.
Nhà thơ Bằng Việt tâm sự: “Trong cả hai cuộc Kháng
chiến, chống Pháp và chống Mỹ, có lẽ vai trò của những
người bà, người mẹ, người chị... như thế là không có gì
thay thế nổi. Và có thể nói không ngoa rằng chính những
con người hiền hoà, nhân hậu, khiêm nhường ấy đã cùng
nhau gánh cả cuộc Kháng chiến lên trên đôi vai gầy guộc,
bé nhỏ của mình. Tôi tự hào dù chỉ làm được một chút gì an
ủi những năm đằng đẵng vất vả, dài dăc ấy của bà, như
tiếng chim tu hú cộng hưởng với nỗi cô đơn lo toan của bà,
gắng làm cho bà đươc nhẹ nhõm hơn, bớt cảm giác cô đơn,
lận đận hơn.
 





