Ý nghĩa của sách trong cuộc sống
Thi nhân Việt Nam

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Thẩm
Ngày gửi: 18h:10' 11-03-2024
Dung lượng: 1.8 MB
Số lượt tải: 1
Người gửi: Lê Thị Thẩm
Ngày gửi: 18h:10' 11-03-2024
Dung lượng: 1.8 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
HOÀI THANH - HOÀI CHÂN
THI NHÂN
VIỆT NAM
1932-1941
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
In theo bản in lần đầu
NGUYỄN ĐỨC PHIÊN
xuất bản năm 1942
do nhà thơ Xuân Tâm cung cấp
Cuốn eBook này được thực hiện tại
Box Dự án eBook cho Thư viện
trang http://tve-4u.org
Với sự tham gia của:
bookworm, windcity, lemontree123, Song Ngư, lungocyennhi, sun1911 và 4DHN
Ngày hoàn thành: 30 Novembre 2013
MỤC LỤC
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
HOÀI THANH
Tiểu sử
Tác phẩm
HOÀI CHÂN
TẢN ĐÀ
THỀ NON NƯỚC
TỐNG BIỆT
MỘT THỜI ĐẠI TRONG THI CA
THẾ LỮ
NHỚ RỪNG
TIẾNG TRÚC TUYỆT VỜI
TIẾNG SÁO THIÊN THAI
BÊN SÔNG ĐƯA KHÁCH
CÂY ĐÀN MUÔN ĐIỆU
VẺ ĐẸP THOÁNG QUA
GIÂY PHÚT CHẠNH LÒNG
VŨ ĐÌNH LIÊN
LÒNG TA LÀ NHỮNG HÀNG THÀNH QUÁCH CŨ
ÔNG ĐỒ
LAN SƠN
VẾT THƯƠNG LÒNG
TẾT VÀ NGƯỜI QUA...
ĐÁM MA ĐI
THANH TỊNH
MÒN MỎI
TƠ TRỜI VỚI TƠ LÒNG
THÚC TỀ
TRĂNG MƠ
HUY THÔNG
ANH NGA
KHÚC TIÊU THIỀU
NGUYỄN VỸ
SƯƠNG RƠI
GỬI TRƯƠNG TỬU
ĐOÀN PHÚ TỨ
MÀU THỜI GIAN
BÌNH
XUÂN DIỆU
TRĂNG
HUYỀN DIỆU
TÌNH TRAI
NHỊ HỒ
ĐÂY MÙA THU TỚI
VỘI VÀNG
CHIỂU
VIỄN KHÁCH
TƯƠNG TƯ CHIỀU…
LỜI KỸ NỮ
NGUYỆT CẨM
GIỤC GIÃ
THU
BUỒN TRĂNG
HOA ĐÊM
HUY CẬN
BUỒN ĐÊM MƯA
TÌNH TỰ
ĐI GIỮA ĐƯỜNG THƠM
ĐẸP XƯA
TRÀNG GIANG
VẠN LÝ TÌNH
NHẠC SẦU
NGẬM NGÙI
THÚ RỪNG
ÁO TRẮNG
CHIỂU XUÂN
TẾ HANH
QUÊ HƯƠNG
LỜI CON ĐƯỜNG QUÊ
VU VƠ
AO ƯỚC
YẾN LAN
BẾN MY LĂNG
NHỚ
PHẠM HẦU
CHIỀU BUỒN
VỌNG HẢI ĐÀI
XUÂN TÂM
XA LẠ
NGHỈ HÈ
THU HỒNG
TƠ LÒNG VỚI ĐẸP
ÊM ĐỀM
MẢNH HỔN THƠ
BÀNG BÁ LÂN
TRƯA HÈ
CỔNG LÀNG
NAM TRÂN
ĐẸP VÀ THƠ
HUẾ, NGÀY HÈ
HUẾ, ĐÊM HÈ
TRƯỚC CHÙA THIÊN MỤ
MÙA ĐÔNG
GIẬN KHÚC NAM AI
NẮNG THU
ĐOÀN VĂN CỪ
CHỢ TẾT
ĐÁM CƯỚI MÙA XUÂN
ĐÁM HỘI
TRĂNG HÈ
ANH THƠ
CHIỀU XUÂN
TRƯA HÈ
RẰM THÁNG BẢY
BẾN ĐÒ NGÀY XƯA
HÀN MẶC TỬ
BẼN LẼN
TÌNH QUÊ
MÙA XUÂN CHÍN
TRƯỜNG TƯƠNG TƯ
AVE MARIA
ĐÊM XUÂN CẦU NGUYỆN
RA ĐỜI
CHẾ LAN VIÊN
THỜI OANH LIỆT
TA
TRÊN ĐƯỜNG VỀ
ĐÊM TÀN
HỒN TRÔI
THU
XUÂN
TRƯA ĐƠN GIẢN
BÍCH KHÊ
DUY TÂN
XUÂN TƯỢNG TRƯNG
J.LEIBA
NĂM QUA
MAI RỤNG
HOA BẠC MỆNH
BẾN GIÁC
THÁI CAN
CẢNH ĐÓ, NGƯỜI ĐÂU?
CHIỂU THU
TRÔNG CHỒNG
ANH BIẾT EM ĐI...
CẢNH ĐOẠN TRƯỜNG
VÂN ĐÀI
TIẾNG ĐÊM
ĐỖ HUY NHIỆM
ĐÌU HIU
HOA TỦI
SAY
LƯU KỲ LINH
ĐỢI CHỜ
CÀNH HOA THU MUỘN
CON BƯỚM TRẮNG
NGUYỄN GIANG
XUÂN
CON ĐƯỜNG NẮNG
MẸ
QUÁCH TẤN
ĐÀ LẠT ĐÊM SƯƠNG
VỂ THĂM NHÀ CẢM TÁC
ĐÊM THU NGHE QUẠ KÊU
ĐÊM TÌNH
MỘNG THẤY HÀN MẶC TỬ
TRƠ TRỌI
CHIỀU XUÂN
BÊN SÔNG
TÌNH XƯA
PHAN KHẮC KHOAN
THÂM TÂM
TỐNG BIỆT HÀNH
PHAN THANH PHƯỚC
ĐÊM TẦN
LƯU TRỌNG LƯ
NẮNG MỚI
THƠ SẦU RỤNG
GIANG HỒ
TIẾNG THU
TÌNH ĐIÊN
CÒN CHI NỮA
XUÂN VỀ
MỘT MÙA ĐÔNG
CHIỂU CỔ
DIỆU HUYỀN
THÚ ĐAU THƯƠNG
NGUYỄN NHƯỢC PHÁP
TAY NGÀ
CHÙA HƯƠNG
PHAN VĂN DẬT
TIỄN ĐƯA
BI XUÂN NƯƠNG
NÀNG CON GÁI HỌ DƯƠNG
ĐÔNG HỒ
CÔ GÁI XUÂN
MUA ÁO
TUỔI XUÂN
BỐN CÁI HÔN
MỘNG TUYẾT
DƯƠNG LIỄU TÂN THANH
VÌ ANH THỌ XUÂN
NGUYỄN XUÂN HUY
GIẬN NHAU
EM ĐƯƠNG THÊU...
HẰNG PHƯƠNG
LÒNG QUÊ
NGUYỄN BÍNH
TƯƠNG TƯ
HAI LÒNG
GIẤC MƠ ANH LÁI ĐÒ
QUAN TRẠNG
LẲNG LƠ
XA CÁCH
NGƯỜI HÀNG XÓM
XUÂN VỀ
VŨ HOÀNG CHƯƠNG
SAY ĐI EM
NGHE HÁT
QUÊN
PHƯƠNG XA
MỘNG HUYỀN
VƯỜN HOANG
NGUYỄN ĐÌNH THƯ
ĐẾN CHIỂU
SANG NGANG
TỐNG BIỆT
VƯƠNG TÌNH
THIỆT THÀ
T.T.KH.
TRẦN HUYỀN TRÂN
NHỎ TO…
LỜI CUỐI SÁCH
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Hơn nửa thế kỷ trước đây, phong trào Thơ mới đã có những đóng góp
đáng kể vào sự phát triển của nền văn học trước Cách mạng tháng Tám của
đất nước. Các thi sĩ của thuở ấy đã đem lại cho bạn đọc một tiếng nói mới,
phản ánh khá trung thực tâm trạng của cả một lớp thanh niên tiểu tư sản
trong cuộc sống có nhiều đau buồn, trăn trở và đôi khi bế tắc trước hiện
trạng của đất nước thời bấy giờ. Với sự đổi mới mạnh mẽ của hình thức nghệ
thuật, Thơ mới thực sự đã thu hút được sự chú ý của khá đông bạn đọc yêu
thơ và đó cũng là một đóng góp có ý nghĩa vào sự phát triển của thể loại và
chứng minh khả năng biểu đạt phong phú của tiếng Việt.
Ngay lúc bây giờ hai tác giả Hoài Thanh và Hoài Chân đã sớm nhận ra
giá trị ấy và đã kịp thời sưu tầm, giới thiệu các thành tựu của phong trào Thơ
mới qua tác phẩm Thi nhân Việt Nam và đã cho xuất bản vào đầu năm
1942.
Thi nhân Việt Nam là sự khám phá và đánh giá đầu tiên đối với Thơ mới.
Chúng ta đều biết việc lựa chọn tác phẩm và tác giả đương thời, nhất là
những người mới xuất hiện trên văn đàn, là một việc làm hết sức khó khăn,
nhưng với sự cảm thụ khá sâu sắc và với cái nhìn tinh tế, các tác giả đã chọn
được một chùm hoa giàu hương sắc trong vườn thơ mới đã gửi tặng những
người yêu thơ. Chính vì thế Thi nhân Việt Nam đã được bạn đọc cả nước
đón nhận và tán thưởng.
Đáp đáp ứng nhu cầu của bạn đọc trong và ngoài nước, nhất là của những
nhà nghiên cứu, những sinh viên văn khoa và đông đảo những người yêu
thơ, Nhà xuất bản Văn học cho tái bản tác phẩm Thi nhân Việt Nam của
Hoài Thanh và Hoài Chân trong Tủ sách nghiên cứu.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, việc thẩm định lại những gia trị có thể có
những thay đổi, nhưng để bảo đảm tính lịch sử của một tác phẩm đã xuất
hiện trước đây, chúng tôi cho in nguyên văn của tác phẩm.
Ngoài ra để có thêm tư liệu tham khảo cho bạn đọc, chúng tôi cho in thêm
Lời cuối sách.
Xin trân trọng giới thiệu Thi nhân Việt Nam cùng bạn đọc.
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
HOÀI THANH
Tiểu sử
Hoài Thanh tên thật là Nguyễn Đức Nguyên, sinh năm 1909, ở xã Nghi
Trung, Huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ Tĩnh, trong một gia đình nhà nho nghèo
có tham gia phong trào chống Pháp của Phan Bội Châu. Bắt đầu học chữ
Hán, chữ quốc ngữ, rồi theo học trường Pháp Việt đến bậc trung học. Có
tham gia phong trào yêu nước của học sinh trong dịp hai cụ Phan về nước.
Năm 1927, gia nhập Tân Việt cách mệnh đảng. Năm 1930 đang học ở trường
Bưởi (Hà Nội) thì bị bắt, bị kết án treo, bị đuổi ra khỏi trường. Kế đó viết
báo, lại bị bắt, bị trục xuất ra khỏi Bắc Kỳ và giải về quê.
Năm 1931 vào Huế, làm công cho một nhà in, đi dạy học tư, đồng thơi
viết văn, viết báo.
Tham gia tổng khỏi nghĩa tháng 8 - 1945. Từ đó lần lượt làm giáo sư ở
Đại học Hà Nội, biên tập viên Đài Tiếng nói Việt Nam, Tổng thư ký Hội
Văn hóa cứu quốc Việt Nam, Hội Văn nghệ Việt Nam. Hoài Thanh là đảng
viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sau kháng chiến chống Pháp, làm vụ trưởng Vụ Nghệ thuật, Tổng thư ký
Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Viện phó Viện Văn học và
Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, ủy viên Đảng đoàn văn nghệ, ủy
viên thường vụ Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam và Chủ nhiệm tuần
báo Văn nghệ cho đến đầu năm 1975.
Nhà văn Hoài Thanh mất ngày 14 - 3 - 1982 tại Hà Nội.
Tác phẩm
Trước Cách mạng tháng Tám:
Viết các báo: “Phổ thông, Le Peuple, La Gazette de Huế, Tràng An, Sông
Hương, Tao Đàn. Năm 1936 cùng với Lưu Trọng Lư và Lê Tràng Kiều viết
quyển Văn chương và hành động (bị chính quyền thực dân cấm). Năm 1941
cùng với Hoài Chân biên soạn quyển Thi Nhân Việt Nam.
Sau cách mạng tháng Tám:
Đã in: Có một nền văn hóa Việt Nam (1946), Quyền sống của con người
trong Truyện Kiều của Nguyễn Du (1949). Nhân văn Việt Nam (1949), Nói
chuyện thơ kháng chiến (1951), Nam Bộ mến yêu (1955), Quê hương và thời
niên thiếu của Bác (cùng viết với Thanh Tịnh 1960), Phê bình và tiểu luận,
tập I (1960), tập II (1965), tập III (1971), Phan Bội Châu (1978), Chuyện
thơ (1978). Tuyển tập Hoài Thanh (2 tập, 1982 - 1983).
HOÀI CHÂN
Hoài Chân, em ruột Hoài Thanh, tên thật là Nguyễn Đức Phiên, sinh ngày
11 tháng 4 năm 1914 ở xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ Tĩnh.
Năm 1930, tham gia phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Năm 1931, giữa lúc
đang học ở trường Collège Vinh (Cao đẳng tiểu học) thì bị bắt và bị kết án tù
một năm.
Cuối năm 1932, sau khi ra tù, vào Huế kiếm sống đồng thời tự học để thi
tú tài.
Từ 1933, làm tại nhà in Đắc Lập rồi làm báo Tràng An và La Gazette de
Huế (Tờ báo thành Huế).
Cùng với Hoài Thanh và Lưu Trọng Lư xây dựng Ngân Sơn tùng thư
(1933 - 1935)
Năm 1941, cùng với Hoài Thanh biên soạn quyển Thi nhân Việt Nam.
Năm 1942, tự xuất bản quyển Thi nhân Việt Nam
Đầu năm 1945, tham gia Việt Minh rồi Tổng khỏi nghĩa tháng Tám ở
Huế.
Sau Cách mạng tháng Tám, lần lượt làm:
- Chủ nhiệm báo Quyết chiến, cơ quan ủy ban nhân dân Trung Bộ.
- Phó ban tuyên huấn tỉnh ủy Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ An.
- Trưởng ty Thông tin, Trưởng ty Văn hóa tỉnh Nghệ An.
- Phụ trách Nhà xuất bản Văn hóa.
- Phó giám đốc kiêm phó tổng biên tập Nhà xuất bản Văn học.
- Giám đốc kiêm tổng biên tập Nhà xuất bản Văn hóa (mới).
Đã nghỉ hưu.
Của tin, gọi một chút này làm ghi.
NGUYỄN DU
TẢN ĐÀ
(1889 - 1939)
CUNG CHIÊU ANH HỒN TẢN ĐÀ
Hội Tao đàn hôm nay đông đủ hầu khắp mặt thi nhân. Chúng tôi một lòng
thành kính xin rước anh hồn tiên sinh về chứng giám.
Anh em ở đây, tuy người sau kẻ trước, nhưng ai nấy đều là con đầu lòng
của thế kỷ hai mươi. Trên hội Tao đàn, chỉ tiên sinh là người của hai thế kỷ.
Tiên sinh sẽ đại diện cho một lớp người để chứng giám công việc lớp người
kế tiếp. Ở địa vị ấy còn có ai xứng đáng hơn tiên sinh.
Tiên sinh gần chúng tôi lắm. Tiên sinh không mang lốt y phục, lốt tư
tưởng của chúng tôi. Nhưng có làm gì những cái lốt. Tiên sinh đã cùng
chúng tôi chia sẻ một nỗi khát vọng thiết tha, nỗi khát vọng thoát ly ra ngoài
cái tù túng, cái giả dối, cái khô khan của khuôn sáo. Đôi bài thơ của tiên
sinh ra đời từ hơn hai mươi năm trước đã có một giọng phóng túng riêng.
Tiên sinh đã dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kỳ
đương sắp sửa.
Nhưng dầu sao, với chúng tôi tiên sinh vẫn là một bực đàn anh; chúng tôi
không dám xem tiên sinh như một người bạn. Tiên sinh còn giữ được của
thời trước cái cốt cách vững vàng cái phong thái ung dung. Đời tiên sinh tuy
bơ vơ, hồn tiên sinh còn có nơi nương tựa. Tiên sinh đã đi qua giữa cái hỗn
độn của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ hai mươi với tấm lòng bình thản một
người thời trước. Những nỗi chật vật của cuộc sống hàng ngày, những cảnh
đời éo le thường phô bày ra trước mắt, không từng làm bợn được linh hồn
cao khiết của tiên sinh. Cái dáng điệu ngang tàng chúng tôi thường thấy ở
các nhà thơ xưa, ở tiên sinh không bao giờ có vẻ vay mượn. Cái buồn chán
của tiên sinh cũng là cái buồn chán một người trượng phu. Thở than có,
nhưng không bao giờ rên rỉ.
Bởi vậy cho nên cần phải có tiên sinh trong cuộc hội họp hôm nay. Có
tiên sinh người ta sẽ thấy rõ chúng tôi không phải là những quái thai của
thời đại, những đứa thất cước không có liên lạc gì với quá khứ của giống
nòi. Có tiên sinh, trên Tao đàn sẽ còn phảng phất chút bình yên trong tin
tưởng, chút thích thảng mà từ lâu chúng tôi đã mất.
Thôi, chúng tôi không muốn nói nhiều. Hội Tao đàn đến lúc mở. Xin tiên
sinh hãy khai hội bằng ít bài thơ.
THỀ NON NƯỚC
- Nước non nặng một lời thề,
Nước đi, đi mãi, không về cùng non,
Nhớ lời “nguyện nước thề non”,
Nước đi chưa lại, non còn đứng không.
- Non cao những ngóng cùng trông,
Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày,
Xương mai một nắm hao gầy,
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương.
Trời tây chiếu bóng tà dương,
Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha.
Non cao tuổi vẫn chưa già,
Non thời nhớ nước, nước mà quên non.
Dù như sông cạn đá mòn,
Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa.
- Non xanh đã biết hay chưa?
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn.
Nước non hội ngộ còn luôn,
Bảo cho non chớ có buồn làm chi.
Nước kìa dù hãy còn đi,
Ngàn đâu xanh tốt non thì cứ vui.
- Nghìn năm giao ước kết đôi,
Non non nước nước không nguôi lời thề.
TỐNG BIỆT
Lá đào rơi rắc lối Thiên thai,
Suối tiễn, oanh đưa, những ngậm ngùi.
Nửa năm tiên cảnh,
Một bước trần ai.
Ước cũ duyên thừa có thế thôi.
Đá mòn, rêu nhạt,
Nước chảy, huê trôi.
Cái hạc bay lên vút tận trời!
Trời đất từ nay xa cách mãi.
Cửa động,
Đầu non,
Đường lối cũ,
Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng soi.
MỘT THỜI ĐẠI TRONG THI
CA
Một xã hội suốt mấy ngàn năm kéo dài một cuộc sống gần như không
thay đổi, về hình thức cũng như về tinh thần. Triều đại tuy bao lần hưng
vong, giang sơn tuy bao lần đổi chủ, song mọi cuộc biến cố về chính trị ít khi
ba động đến sự sống của nhân dân. Từ đời này sang đời khác, đại khái chỉ có
bấy nhiêu tập tục, bấy nhiêu ý nghĩ, bấy nhiêu tin tưởng, cho đến những nỗi
yêu, ghét, vui, buồn, cơ hồ cũng nằm yên trong những khuôn khổ nhất định.
Thời gian ở đây đã ngừng lại và người ta chỉ sống trong không gian.
Nhưng, nhất đán, một cơn gió mạnh bỗng từ xa thổi đến. Cả nền tảng xưa
bị một phen điên đảo, lung lay. Sự gặp gỡ phương Tây là cuộc biến thiên lớn
nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ.
Phải trở lại cái thời tổ tiên ta mới tiếp xúc với người Trung Hoa, hơn nữa,
[1]
phải trở lại cái thời giống người Anh đô nê diêng lần thứ nhất để chân vào
lưu vực sông Hồng Hà mới hòng tìm được một cuộc biến thiên quan trọng
như vậy.
Trước mắt chúng ta bỗng bày ra những cảnh lạ lùng chưa bao giờ từng
thấy. Lúc đầu, ai nấy đều ngơ ngác, không hiểu ra làm sao. Nhưng rồi chúng
ta quen dần.
Chúng ta ở nhà tây, đội mũ tây, đi giày tây, mặc áo tây. Chúng ta dùng
đèn điện, đồng hồ, ô tô, xe lửa, xe đạp... còn gì nữa! Nói làm sao cho xiết
những điều thay đổi về vật chất, phương Tây đã đưa tới giữa chúng ta! Cho
đến những nơi hang cùng ngõ hẻm, cuộc sống cũng không còn giữ nguyên
hình ngày trước. Nào dầu tây, diêm tây, nào vải tây, chỉ tây, kim tây, đinh
tây. Đừng tưởng tôi nguỵ biện. Một cái đinh cũng mang theo nó một chút
quan niệm của phương Tây về nhân sinh, về vũ trụ, và có ngày ta sẽ thấy
thay đổi cả quan niệm của phương Đông. Những đồ dùng kiểu mới ấy chính
đã dẫn đường cho tư tưởng mới. Trong công cuộc duy tân, ảnh hưởng của nó
ít ra cũng ngang với ảnh hưởng những sách nghị luận của hiền triết Âu Mỹ,
cùng những sách cổ động của Khang, Lương. Sĩ phu nước ta từ xưa vốn chỉ
biết có Khổng Tử, bắt đầu dẫn Mạnh Đúc Tư Cưu với Lư Thoa. Họ bắt đầu
viết quốc ngữ, một thứ chữ mượn của người phương Tây. Câu văn của họ
cũng bắt đầu có cái rõ ràng, cái sáng sủa của văn tây. Những tư tưởng
phương Tây đầy dẫy trên Đông Dương tạp chí, trên Nam Phong tạp chí, và
từ hai cơ quan ấy thấm dần vào các hạng người có học. Người ta đua nhau
cho con em đến trường Pháp Việt, người ta gửi con em sang tận bên Pháp.
Thế rồi có những người Việt Nam đậu kỹ sư, đậu bác sĩ, đậu thạc sĩ; có
những người Việt Nam nghiên cứu khoa học, triết học; và có những người
Việt Nam nghĩ chuyện xây dựng một nền học riêng cho nước Việt Nam.
Bấy nhiêu sự thay đổi trong khoảng năm sáu mươi năm! Năm sáu mươi
năm mà như năm sáu mươi thế kỷ! Nhưng cuộc Âu hóa không phải chỉ có
thế. Nó đã đi qua hai giai đoạn: hình thức và tư tưởng; nó còn phải đi qua
một giai đoạn nữa. Nó đã thay đổi những tập quán sinh hoạt hàng ngày, nó
đã thay đổi cách ta vận động tư tưởng, tất nó sẽ thay đổi cả cái nhịp rung
cảm của ta nữa. Những hình thức mới của cuộc đời, những tư tưởng mới và
nhất là ảnh hưởng văn học Pháp ngày một thấm thía, ấy là những lợi khí Âu
hóa trong giai đoạn thứ ba này.
Phương Tây bây giờ đã đi tới chỗ sâu nhất trong hồn ta. Ta không còn có
thể vui cái vui ngày trước, buồn cái buồn ngày trước, yêu, ghét, giận hờn
nhất nhất như ngày trước. Đã đành ta chỉ có chừng ấy mối tình như con
người muôn nơi và muôn thuở. Nhưng sống trên đất Việt Nam ở đầu thế kỷ
hai mươi, những mối tình của ta không khỏi có cái màu sắc riêng, cái dáng
dấp riêng của thời đại.”... Các cụ ta ưa những màu đỏ choét; ta lại ưa những
màu xanh nhạt... Các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya; ta nao nao
vì tiếng gà lúc đứng ngọ. Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ các cụ coi như
đã làm một điều tội lỗi; ta thì cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng
xanh. Cái ái tình của các cụ thì chỉ là sự hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm
hình muốn trạng: cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gụi, cái
tình xa xôi... cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu...” Mấy câu nói xô
bồ, liều lĩnh mà tha thiết của Ô. Lưu Trọng Lư ở nhà Học hội Quy Nhơn hồi
năm 1934 đã vạch rõ tâm lý của lớp thanh niên chúng ta.
Tình chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng phải đổi mới vậy. Cái khát
vọng cởi trói cho thi ca chỉ là cái khát vọng nói rõ những điều kín nhiệm u
uất, cái khát vọng được thành thực. Một nỗi khát vọng khẩn thiết đến đau
đớn. Chính Ô. Lưu Trọng Lư cũng đã viết trong quyển Người sơn nhân hồi
mai 1933: “Người thanh niên Việt Nam ngày nay đương bơ vơ đi tìm người
thi nhân của mình như người con đi tìm mẹ”.
Đã thế, không thể xem phong trào thơ mới là một chuyện lập dị do một
bọn dốt nát bày đặt ra để kiếm chỗ ngồi trong làng thơ. Nó là kết quả không
thể không có của một cuộc biến thiên vĩ đại bắt đầu từ hồi nước ta sát nhập
đế quốc Pháp và, xa hơn nữa, từ hồi Nguyễn - Trịnh phân tranh, lúc người
Âu mới đến. Cái ngày người lái buôn phương Tây thứ nhất đặt chân lên xứ
ta, người ấy đã đem theo cùng với hàng hóa phương Tây, cái mầm sau này sẽ
nảy thành thơ mới.
*
* *
Nhưng tìm nguồn gốc thơ mới mà chỉ nói xa xôi thế, công việc nhà viết
sử cũng khí dễ dàng. Ta hãy tìm những nguyên nhân gần gụi hơn cùng
những triệu chứng của phong trào thơ mới.
Đã lâu, người mình làm thơ hầu hết chỉ làm những bài tám câu, mỗi cầu
[2]
bảy chữ. Theo Ô. Phan Khôi , lỗi ấy phải quy cho khoa cử. Phép thi ngày
xưa bắt học trò vào trường nhì làm một bài thơ theo thể thất ngôn luật. Thể
thất ngôn luật vốn mượn của thi nhân đời Đường, nhưng khi người ta đưa nó
vào khoa cử, nó còn bó buộc gấp mấy luật Đường. Theo luật Đường trong
một bài thơ tám câu, bốn câu giữa gọi là câu tam tứ, câu ngũ lục và muốn nói
gì thì nói. Phép khoa cử bắt phải gọi câu tam tứ là câu thực, nghĩa là phải
giải thích đầu đề cho rõ ràng, hai câu ngũ lục là câu luận, nghĩa là phải đem
ý đầu bài mà bàn rộng ra. Thí sinh làm thơ nhất định phải theo quy mô ấy.
Không theo, hỏng.
Nhưng chính phủ Bảo hộ lần lượt bỏ chế độ khoa cử, ở Nam Kỳ (1864?),
ở Bắc Kỳ (1915), ở Trung Kỳ (1918). Khoa cử bỏ, thể thất ngôn luật cũng
theo đó mà mất địa vị độc tôn. Năm 1917 nó bị Ô. Phạm Thượng Chi công
[3]
kích trong một bài bàn về tâm lý lối thơ ấy - Ông bảo: “Người ta thường
nói thơ là tiếng kêu tự nhiên của con tâm. Người Tàu định luật nghiêm cho
nghề làm thơ thực là muốn chữa lại, sửa lại cái tiếng kêu ấy, cho nó hay hơn,
trúng vần trúng điệu hơn, nhưng cũng nhân đó mà làm mất cái giọng thiên
nhiên đi vậy”. Tiếp đó ông phê bình bài thơ “Qua đèo Ngang” của Bà huyện
Thanh Quan:
“Rằng hay thì thực là hay.
Nhưng hay quá, khéo quá, phần nhân công nhiều mà vẻ tự nhiên ít, quả là
một bức tranh cảnh vậy”.
Thời oanh liệt của thất ngôn luật đã đến lúc tàn.
Năm 1928, nó bị Ô. Phan Khôi công kích trên Đông Pháp thời báo. Ông
[4]
Phan trách thể thơ “bó buộc quá mà mất cả sanh thú” .
Năm 1929, trên báo Phụ nữ tân văn Ô. Trịnh Đình Rư lại công kích nó
một lần nữa và hô hào người ta lưu tâm đến lối lục bát và song thất lục bát,
[5]
là những lối thơ đặc biệt của ta .
Thực ra, từ trước, trên sách vở báo chương thỉnh thoảng thất ngôn luật
cũng đã phải nhường chỗ cho lục bát, song thất lục bát, cổ phong, từ
khúc.v.v... Lác đác người ta còn thấy xuất hiện những bài không niêm,
không luật, không hạn chữ, hạn câu. Ấy là bài dịch thơ ngụ ngôn La Cigale
[6]
et la Fourmi của Nguyễn Văn Vĩnh :
Con ve sầu kêu ve ve suốt mùa hè
Đến kỳ gió bấc thổi
Nguồn cơn thật bối rối...
[7]
Ấy là những bài gọi là thơ buông của một sinh viên trường Cao đẳng.
Ô. Lê Khánh Đồng, đã làm một trò cười cho chúng ta hồi nhỏ.
Những bài như thế mà dám mạo danh là thơ, cứ thời bấy giờ thực đáng
khép vào tội phạm thượng. Một sự biến cố dường ấy mà xảy ra được, dầu
không được công nhận, cũng đủ chứng rằng cái thời vận luật Đường đã cực
kỳ suy vi.
Khuôn khổ bài thơ bắt đầu rạn nứt. Một sức mạnh đương ngấm ngầm
hoạt động trong tâm linh nòi giống. Nói cho đúng, chúng ta cũng chỉ phỏng
đoán chứ thực ra chưa thấy gì. Thi thể có ít nhiều thay đổi mà thi tứ vẫn như
xưa. Chỉ trong đôi bài thơ của Tản Đà mới thấy phảng phất chút bâng
khuâng, chút phóng túng của thời sau. Ngoài ra, người ta vẫn ca đi hát lại
bấy nhiêu đề thơ bằng bấy nhiêu giọng thơ không di dịch. Cửa hé mở từ lâu
nhưng ngọn gió xa đón hoài không thấy tới. Xã hội Việt Nam chưa đến tuần
thành thục. Chưa có thể nhóm đậy một cuộc cách mệnh về thi ca.
*
* *
Nhưng một ngày kia cuộc cách mệnh về thi ca đã nhóm dậy. Ngày ấy là
[8]
ngày 10 mars 1932 . Lần đầu tiên trong thành trì thơ cũ hiện ra một lỗ
thủng. Ô. Phan Khôi hăng hái như một vị tướng quân, dõng dạc bước ra trận.
Ông tự giới thiệu: “Trước kia... ít ra trong một năm tôi cùng có được năm
bảy bài, hoặc bằng chữ Hán, hoặc bằng chữ Nôm; mà năm bảy bài của tôi,
không phải nói phách, đều là năm bảy bài nghe được”. Ấy thế đó mà ông kết
án thơ cũ! “Thơ cốt chơn. Thơ cũ bị câu thúc quá nên bị mất chơn”. Bởi vậy
ông bày ra một lối thơ “đem ý thật có trong tâm khảm mình tả ra bằng những
câu có vần mà không bó buộc bởi niêm luật gì hết” và tạm mệnh danh là thơ
mới.
Hồi bấy giờ Phụ nữ tân văn đương thời cực thịnh. Những lời nói của ông
[9]
Phan được truyền bá đi khắp nơi. Cái bài thơ mới “Tình già” ông dẫn ra
làm thí dụ, không rõ có được ai thích không, nhưng một số đông thanh niên
trong nước bỗng thấy mở ra một góc trời vì cái táo bạo giấu giếm của mình
đã được một bực đàn anh trong văn giới công nhiên thừa nhận.
Lần lượt những bài thơ mới, vốn làm từ trước, được đưa lên mặt báo.
Người hưởng ứng thứ nhất là Ô. Lưu Trọng Lư. Sau khi đăng bài của Ô.
Phan Khôi chẳng bao lâu, Phụ nữ tân văn nhận được một bức thư hoan
nghênh ký cô Liên Hương (Faifo), một bài thơ mới “Trên đường đời” ký
Lưu Trọng Lư và một bài nữa “Vắng khách thơ” ký Thanh Tâm. Ký nhiều
tên cho rộn thế thôi chứ đi lại cũng chỉ một người. 'Tình già”, “Trên đường
đời”, và “Vắng khách thơ” là ba bài mang tên thơ mới được đăng báo trước
[10]
nhất. Trong ba bài ấy thì bài thứ ba đã là một bài có giá trị
. Kế đó, Phụ
nữ tân văn còn đăng thơ mới của Nguyễn Thị Manh Manh (tức Nguyễn Thị
Kiêm), của Hồ Văn Hảo và nhiều người nữa.
Nhưng rồi phong trào thơ mới chuyển ra đất Bắc và được một cơ quan
ngôn luận khác ủng hộ một cách đắc lực hơn.
Báo Phong hóa tập mới ra đời ngày 22 Septembre 1932. Ngay số đầu đã
có bài công kích thơ Đường luật và kết luận rằng: “Thơ ta phải mới, mới văn
thể, mới ý tưởng”. Từ đó cho đến cuối năm 1932, Phong hóa không đăng thơ
mới nhưng cũng không đăng thơ cũ. Phong hóa lại còn giễu thơ cũ bằng
cách giễu Tản Đà, người đại biểu chính thức cho nền thơ cũ. Bài “Cảm thu
tiễn thu” của Tản Đà đã làm đầu đề cho một bức tranh khôi hài của Đông
Sơn và một bài hát nói khôi hài của Tú Mỡ. Họ so sánh cảnh thực với cảnh
mộng trong trí tưởng thi nhân. Tú Mỡ viết:
Cây tươi tốt, lá còn xanh ngắt,
Bói đâu ra lác đác lá ngô vàng!
Trên dường đi nóng dãy như rang,
Cảnh tuyết phủ mơ màng thêm quái lạ!
…
Phá hoại rồi họ kiến thiết. Nhận được của Ô. Lưu Trọng Lư bức thư gửi
cho Ô. Phan Khôi mấy tháng trước, họ trịnh trọng đăng lại trên Phong hóa
số Tết ra ngày 24 janvier 1933 cùng với ít bài thơ mới của Lưu Trọng Lư,
Tân Việt, Thế Lữ. Tiếp theo đó, Phong hóa luôn luôn đăng thơ mới của Tứ
Ly, Thế Lữ, Nhất Linh, Nguyễn Văn Kiện, Vũ Đình Liên, Đoàn Phú Tứ,
Huy Thông.
Các báo chí khác cũng đua nhau đăng thơ mới. Ở Huế, Ngân Sơn tùng thư
ra đời ngày 15 Septembre 1933, liền xuất bản với ít truyện ngắn, một tập thơ
[11]
mới của Lưu Trọng Lư
.
Thơ mới đã bắt đầu có cơ sở. Trong làng thơ mới người ta càng sốt sắng
thêm. Từ hai tháng trước, hôm 26 juillet 1933, một nữ sĩ có tài và có gan, cô
Nguyễn Thị Kiêm, đã lên diễn đàn hội Khuyến học Sài Gòn hết sức tán
dương thơ mới. Hội Khuyến học Sài Gòn thành lập đến bấy giờ đã 25 năm.
Lần thứ nhất một bạn gái lên diễn đàn và cũng lần thứ nhất có một cuộc diễn
thuyết được đông người nghe như thế.
Nối gót cô Nguyễn Thị Kiêm, còn nhiều diễn giải cũng theo một mục
đích: giành lấy phần thắng cho thơ mới:
Juin 1934: Ô. Lưu Trọng Lư diễn thuyết tại nhà Học hội Quy Nhơn.
Janvier 1935: Ô. Đỗ Đức Vượng diễn thuyết tại hội Trí tri Hà Nội.
Janvier 1935: cô Nguyễn Thị Kiêm lại diễn thuyết tại hội Khuyến học Sài
Gòn để tranh luận với Ô. Nguyễn Văn Hanh.
Novembre 1935: Ô. Vũ Đình Liên diễn thuyết tại hội Trí tri Nam Định.
Fébrier 1936: Ô. Trương Tửu diễn thuyết về thơ Bạch Nga tại hội Khai trí
tiến đức Hà Nội.
Trên báo chương cũng luôn luôn có những bài bênh vực, khích lệ thơ
mới. Ô. Lưu Trọng Lư gửi hai bức thư lên Khê Thượng nói chuyện thơ mới
[12]
với Tản Đà
. Ô. Lê Tràng Kiều viết tám bài ca tụng các nhà thơ mới để
[13]
trả lời Ô. Tùng Lâm và Ô. Thái Phi
. Ngoài ra còn bao nhiêu bài nữa.
Ở cái xứ vô sự này, câu chuyện câu thơ cơ hồ là câu chuyện độc nhất của
một số đông thanh niên nam nữ. Nhưng đã đến lúc những lời hùng biện trở
nên vô dụng. Những thi sĩ có danh đã ra đời: Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy
Thông, Nguyễn Nhược Pháp, J.Leiba, Thái Can. Trong khoảng bốn năm, đã
sản xuất rất nhiều bài thơ có giá trị. Và những bài thơ ấy, nhất là những bài
của Thế Lữ, không trống không kèn đã bênh vực một cách vững vàng cho
thơ mới.
1935, cái năm đại náo trong làng thơ, đi qua. Bước sang 1936 sự toàn
thắng của thơ mới đã rõ rệt. Đề tựa tập Những áng thơ hay, Ô. Lê Tràng
Kiều bàn nên xóa bỏ hai chữ thơ mới. Vì “hai chữ thơ mới là biểu hiện một
cuộc cách mệnh đương bồng bột” mà “cuộc cách mệnh về thi ca ngày nay đã
yên lặng như mặt nước hồ thu”. Ô. Lưu Trọng Lư nở một nụ cười kiêu hãnh,
đăng trên Hanoi báo (19-2-1936) một bài thơ thất ngôn sách họa kết bằng
hai câu:
Nắn nót miền sao nên bốn vế,
Chẳng thơ thì cũng cóc cần thơ.
Cái cười khinh mạn của người chiến thắng kể không có gì đáng ưa. Thế
Lữ, khôn hơn, chỉ lẳng lặng nói chuyện với người đồng hương - những
người trong làng thơ mới. Từ mục “Lá thắm” của Tinh hoa đến mục “Tin
thơ” của Ngày nay, từ mai 1937 đến octobre 1938, Thế Lữ chăm chú dạy
nghề thơ cho những ai nuôi giấc mộng một ngày kia trở nên thi sĩ.
Thơ mới ra đời ngày một nhiều, cái danh hiệu thơ mới mất dần trên sách
báo. Thi đàn đã vắng tiếng cãi nhau. Cho đến hồi juin năm nay, vì chuyện
[14]
thơ mới, Ô. Huỳnh Thúc Kháng và Ô. Phan Khôi bắt bẻ lẫn nhau
, làng
thơ Việt Nam không mấy ai để ý đến những lời qua tiếng lại giữa hai ông già
ấy.
Tấn kịch mới cũ trong phạm vi thi ca đã kết liễu. Thơ mới đã giành được
quyền sống. Nó chiếm hầu hết báo chí sách vở, đã len vào đến học
[15]
đường
. Mà đã vào học đường, nhất là ở nước ta, tức là thanh thế đã to
lắm.
*
* *
Trước sự bành trướng mãnh liệt của thơ mới, trước mọi sự hô hào rầm rộ
của những người trong phái mới, làng thơ cũ đã phản ứng như thế nào?
Août 1933: Một tuần sau cuộc diễn thuyết thứ nhất của cô Nguyễn Thị
[16]
Kiêm, Ô. Tân Việt, bình bút báo Công luận
bênh vực thơ cũ tại diễn đàn
hội Khuyến học Sài Gòn.
Octobre 1933: Văn học tạp chí, Hà Nội, chê các nhà thơ mới không biết
cân nhắc chữ dùng.
Novembre - décembre 1934: Tản Đà nói chuyện thơ mới, thơ cũ trên Tiểu
thuyết thứ bảy.
Décembre 1934: Trên Văn học tạp chí Ô. Hoàng Duy Từ phản đối bài
diễn thuyết của Ô. Lưu Trọng Lư tại nhà Học hội Quy Nhơn.
9 janvier 1935: Ô. Nguyễn Văn Hanh diễn thuyết tại hội Khuyến học Sài
Gòn.
16 janvier 1935: Ô. Nguyễn Văn Hanh lại diễn thuyết tại hội Khuyến học
Sài Gòn cùng một hôm với cô Nguyễn Thị Kiêm (diễn thuyết tranh luận).
Avril 1935: Hai Ô. Tường Vân và Phi Vân xuất bản tập thơ cũ Những
bông hoa trái mùa ở Vinh.
Juin 1935: Ô. Tùng Lâm Lê Cương phụng công kích thơ mới trên Văn
học tuần san, Sài Gòn.
Avril 1936: Ô. Thái Phi công kích thơ mới trên báo Tin văn, Hà Nội.
Août 1937: Ô. Nguyễn Văn Hanh diễn thuyết ở hội Quảng tri Huế.
Juin 1941: Ô. Huỳnh Thúc Kháng, sau nhiều lần chỉ trích và mạt sát, nói
cả quyết rằng thơ mới đã đến ngày mạt vận.
*
* *
Cũng rộn đấy chứ! Cái cảnh thơ cũ lúc tàn không đến nỗi buồn tẻ, thảm
hại như cái cảnh suy vi của nền Khổng học. Năm 1930, Ô. Phan Khôi viết
trên báo Thần chung ở Sài Gòn một thôi hai mươi mốt bài chỉ trích Khổng
giáo. Thế mà những môn đồ đạo Khổng còn sống sót nguội lạnh như không.
[17]
Tinh thần Khổng giáo ở nước ta đã bạc nhược lắm vậy. Tinh thần thơ cũ
có phần tráng kiện hơn. Gặp cơn nguy biến, còn có người ra tay chống chọi.
Nhưng rồi cũng không sao cứu vãn được tình thế. Chỉ có một người hoặc có
thể làm nên chuyện. Người ấy là Tản Đà một nhà thơ có tài. Nhưng đối với
phong trào thơ mới, Tản Đà lại hết sức dè dặt. Một người nữa, Ô. Hoàng
Duy Từ, trên Văn học tạp chí, cũng có nhiều câu có lý, nhưng ông lại chủ
trương cái thuyết của A. Chénier: tứ mới lời xưa. Và như thế ý kiến ông
giống hệt nhiều nhà thơ mới.
Còn các người khác họ lập luận đại khái bất ngoại mấy lối này:
Hoặc họ cho những nhà thơ mới là một bọn mù:
Chẳng khác anh mù lại nói mơ
[18]
Chẳng qua một bọn dốt làm thơ
Ý họ nghĩ rằng người ta làm thơ mới là chỉ vì luật thơ Đường khó. Nhưng
từ août 1933, thuật lại cuộc diễn thuyết của Ô. Tân Việt, Phụ nữ tân văn đã
trả lời trước họ: “Thơ tám câu cũng không phải khó gì. Nhiều người chỉ học
trong nửa tiếng đồng hồ là thuộc và có thể làm đúng niêm luật. Các báo hàng
ngày vẫn đăng luôn bao nhiêu là thơ bát cú của nhiều thí sĩ chỉ học trong có
mấy ngày là “thành tài”... Chúng tôi dám quả quyết như vậy là vì từ khi có
báo quốc ngữ đến nay, đã vài mươi năm, ở mục văn uyển các báo, thơ tám
câu, bốn câu mọc ra không phải như hoa lan, hoa huệ, hoa hồng, mà như
[19]
nấm”
.
Hoặc họ dẫn ra ít bài thơ mới lủng củng lủng ca để công kích cho tiện rồi
kết luận theo lối cái nhà thơ cũ nào đó đã gửi cho Ô. Lam Giang một bài bát
cú chê thơ mới:
Nghĩa lý vơ vơ rồi vẩn vẩn
Thanh âm ngẩn ngẩn lại ngơ ngơ
So với Á học như dưa đắng
[20]
Sánh với Âu văn tựa mít xơ...
Họ quên rằng chính những nhà thơ mới đã công kích thơ mới tàn nhẫn
nghĩa là công kíc...
THI NHÂN
VIỆT NAM
1932-1941
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
In theo bản in lần đầu
NGUYỄN ĐỨC PHIÊN
xuất bản năm 1942
do nhà thơ Xuân Tâm cung cấp
Cuốn eBook này được thực hiện tại
Box Dự án eBook cho Thư viện
trang http://tve-4u.org
Với sự tham gia của:
bookworm, windcity, lemontree123, Song Ngư, lungocyennhi, sun1911 và 4DHN
Ngày hoàn thành: 30 Novembre 2013
MỤC LỤC
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
HOÀI THANH
Tiểu sử
Tác phẩm
HOÀI CHÂN
TẢN ĐÀ
THỀ NON NƯỚC
TỐNG BIỆT
MỘT THỜI ĐẠI TRONG THI CA
THẾ LỮ
NHỚ RỪNG
TIẾNG TRÚC TUYỆT VỜI
TIẾNG SÁO THIÊN THAI
BÊN SÔNG ĐƯA KHÁCH
CÂY ĐÀN MUÔN ĐIỆU
VẺ ĐẸP THOÁNG QUA
GIÂY PHÚT CHẠNH LÒNG
VŨ ĐÌNH LIÊN
LÒNG TA LÀ NHỮNG HÀNG THÀNH QUÁCH CŨ
ÔNG ĐỒ
LAN SƠN
VẾT THƯƠNG LÒNG
TẾT VÀ NGƯỜI QUA...
ĐÁM MA ĐI
THANH TỊNH
MÒN MỎI
TƠ TRỜI VỚI TƠ LÒNG
THÚC TỀ
TRĂNG MƠ
HUY THÔNG
ANH NGA
KHÚC TIÊU THIỀU
NGUYỄN VỸ
SƯƠNG RƠI
GỬI TRƯƠNG TỬU
ĐOÀN PHÚ TỨ
MÀU THỜI GIAN
BÌNH
XUÂN DIỆU
TRĂNG
HUYỀN DIỆU
TÌNH TRAI
NHỊ HỒ
ĐÂY MÙA THU TỚI
VỘI VÀNG
CHIỂU
VIỄN KHÁCH
TƯƠNG TƯ CHIỀU…
LỜI KỸ NỮ
NGUYỆT CẨM
GIỤC GIÃ
THU
BUỒN TRĂNG
HOA ĐÊM
HUY CẬN
BUỒN ĐÊM MƯA
TÌNH TỰ
ĐI GIỮA ĐƯỜNG THƠM
ĐẸP XƯA
TRÀNG GIANG
VẠN LÝ TÌNH
NHẠC SẦU
NGẬM NGÙI
THÚ RỪNG
ÁO TRẮNG
CHIỂU XUÂN
TẾ HANH
QUÊ HƯƠNG
LỜI CON ĐƯỜNG QUÊ
VU VƠ
AO ƯỚC
YẾN LAN
BẾN MY LĂNG
NHỚ
PHẠM HẦU
CHIỀU BUỒN
VỌNG HẢI ĐÀI
XUÂN TÂM
XA LẠ
NGHỈ HÈ
THU HỒNG
TƠ LÒNG VỚI ĐẸP
ÊM ĐỀM
MẢNH HỔN THƠ
BÀNG BÁ LÂN
TRƯA HÈ
CỔNG LÀNG
NAM TRÂN
ĐẸP VÀ THƠ
HUẾ, NGÀY HÈ
HUẾ, ĐÊM HÈ
TRƯỚC CHÙA THIÊN MỤ
MÙA ĐÔNG
GIẬN KHÚC NAM AI
NẮNG THU
ĐOÀN VĂN CỪ
CHỢ TẾT
ĐÁM CƯỚI MÙA XUÂN
ĐÁM HỘI
TRĂNG HÈ
ANH THƠ
CHIỀU XUÂN
TRƯA HÈ
RẰM THÁNG BẢY
BẾN ĐÒ NGÀY XƯA
HÀN MẶC TỬ
BẼN LẼN
TÌNH QUÊ
MÙA XUÂN CHÍN
TRƯỜNG TƯƠNG TƯ
AVE MARIA
ĐÊM XUÂN CẦU NGUYỆN
RA ĐỜI
CHẾ LAN VIÊN
THỜI OANH LIỆT
TA
TRÊN ĐƯỜNG VỀ
ĐÊM TÀN
HỒN TRÔI
THU
XUÂN
TRƯA ĐƠN GIẢN
BÍCH KHÊ
DUY TÂN
XUÂN TƯỢNG TRƯNG
J.LEIBA
NĂM QUA
MAI RỤNG
HOA BẠC MỆNH
BẾN GIÁC
THÁI CAN
CẢNH ĐÓ, NGƯỜI ĐÂU?
CHIỂU THU
TRÔNG CHỒNG
ANH BIẾT EM ĐI...
CẢNH ĐOẠN TRƯỜNG
VÂN ĐÀI
TIẾNG ĐÊM
ĐỖ HUY NHIỆM
ĐÌU HIU
HOA TỦI
SAY
LƯU KỲ LINH
ĐỢI CHỜ
CÀNH HOA THU MUỘN
CON BƯỚM TRẮNG
NGUYỄN GIANG
XUÂN
CON ĐƯỜNG NẮNG
MẸ
QUÁCH TẤN
ĐÀ LẠT ĐÊM SƯƠNG
VỂ THĂM NHÀ CẢM TÁC
ĐÊM THU NGHE QUẠ KÊU
ĐÊM TÌNH
MỘNG THẤY HÀN MẶC TỬ
TRƠ TRỌI
CHIỀU XUÂN
BÊN SÔNG
TÌNH XƯA
PHAN KHẮC KHOAN
THÂM TÂM
TỐNG BIỆT HÀNH
PHAN THANH PHƯỚC
ĐÊM TẦN
LƯU TRỌNG LƯ
NẮNG MỚI
THƠ SẦU RỤNG
GIANG HỒ
TIẾNG THU
TÌNH ĐIÊN
CÒN CHI NỮA
XUÂN VỀ
MỘT MÙA ĐÔNG
CHIỂU CỔ
DIỆU HUYỀN
THÚ ĐAU THƯƠNG
NGUYỄN NHƯỢC PHÁP
TAY NGÀ
CHÙA HƯƠNG
PHAN VĂN DẬT
TIỄN ĐƯA
BI XUÂN NƯƠNG
NÀNG CON GÁI HỌ DƯƠNG
ĐÔNG HỒ
CÔ GÁI XUÂN
MUA ÁO
TUỔI XUÂN
BỐN CÁI HÔN
MỘNG TUYẾT
DƯƠNG LIỄU TÂN THANH
VÌ ANH THỌ XUÂN
NGUYỄN XUÂN HUY
GIẬN NHAU
EM ĐƯƠNG THÊU...
HẰNG PHƯƠNG
LÒNG QUÊ
NGUYỄN BÍNH
TƯƠNG TƯ
HAI LÒNG
GIẤC MƠ ANH LÁI ĐÒ
QUAN TRẠNG
LẲNG LƠ
XA CÁCH
NGƯỜI HÀNG XÓM
XUÂN VỀ
VŨ HOÀNG CHƯƠNG
SAY ĐI EM
NGHE HÁT
QUÊN
PHƯƠNG XA
MỘNG HUYỀN
VƯỜN HOANG
NGUYỄN ĐÌNH THƯ
ĐẾN CHIỂU
SANG NGANG
TỐNG BIỆT
VƯƠNG TÌNH
THIỆT THÀ
T.T.KH.
TRẦN HUYỀN TRÂN
NHỎ TO…
LỜI CUỐI SÁCH
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Hơn nửa thế kỷ trước đây, phong trào Thơ mới đã có những đóng góp
đáng kể vào sự phát triển của nền văn học trước Cách mạng tháng Tám của
đất nước. Các thi sĩ của thuở ấy đã đem lại cho bạn đọc một tiếng nói mới,
phản ánh khá trung thực tâm trạng của cả một lớp thanh niên tiểu tư sản
trong cuộc sống có nhiều đau buồn, trăn trở và đôi khi bế tắc trước hiện
trạng của đất nước thời bấy giờ. Với sự đổi mới mạnh mẽ của hình thức nghệ
thuật, Thơ mới thực sự đã thu hút được sự chú ý của khá đông bạn đọc yêu
thơ và đó cũng là một đóng góp có ý nghĩa vào sự phát triển của thể loại và
chứng minh khả năng biểu đạt phong phú của tiếng Việt.
Ngay lúc bây giờ hai tác giả Hoài Thanh và Hoài Chân đã sớm nhận ra
giá trị ấy và đã kịp thời sưu tầm, giới thiệu các thành tựu của phong trào Thơ
mới qua tác phẩm Thi nhân Việt Nam và đã cho xuất bản vào đầu năm
1942.
Thi nhân Việt Nam là sự khám phá và đánh giá đầu tiên đối với Thơ mới.
Chúng ta đều biết việc lựa chọn tác phẩm và tác giả đương thời, nhất là
những người mới xuất hiện trên văn đàn, là một việc làm hết sức khó khăn,
nhưng với sự cảm thụ khá sâu sắc và với cái nhìn tinh tế, các tác giả đã chọn
được một chùm hoa giàu hương sắc trong vườn thơ mới đã gửi tặng những
người yêu thơ. Chính vì thế Thi nhân Việt Nam đã được bạn đọc cả nước
đón nhận và tán thưởng.
Đáp đáp ứng nhu cầu của bạn đọc trong và ngoài nước, nhất là của những
nhà nghiên cứu, những sinh viên văn khoa và đông đảo những người yêu
thơ, Nhà xuất bản Văn học cho tái bản tác phẩm Thi nhân Việt Nam của
Hoài Thanh và Hoài Chân trong Tủ sách nghiên cứu.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, việc thẩm định lại những gia trị có thể có
những thay đổi, nhưng để bảo đảm tính lịch sử của một tác phẩm đã xuất
hiện trước đây, chúng tôi cho in nguyên văn của tác phẩm.
Ngoài ra để có thêm tư liệu tham khảo cho bạn đọc, chúng tôi cho in thêm
Lời cuối sách.
Xin trân trọng giới thiệu Thi nhân Việt Nam cùng bạn đọc.
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
HOÀI THANH
Tiểu sử
Hoài Thanh tên thật là Nguyễn Đức Nguyên, sinh năm 1909, ở xã Nghi
Trung, Huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ Tĩnh, trong một gia đình nhà nho nghèo
có tham gia phong trào chống Pháp của Phan Bội Châu. Bắt đầu học chữ
Hán, chữ quốc ngữ, rồi theo học trường Pháp Việt đến bậc trung học. Có
tham gia phong trào yêu nước của học sinh trong dịp hai cụ Phan về nước.
Năm 1927, gia nhập Tân Việt cách mệnh đảng. Năm 1930 đang học ở trường
Bưởi (Hà Nội) thì bị bắt, bị kết án treo, bị đuổi ra khỏi trường. Kế đó viết
báo, lại bị bắt, bị trục xuất ra khỏi Bắc Kỳ và giải về quê.
Năm 1931 vào Huế, làm công cho một nhà in, đi dạy học tư, đồng thơi
viết văn, viết báo.
Tham gia tổng khỏi nghĩa tháng 8 - 1945. Từ đó lần lượt làm giáo sư ở
Đại học Hà Nội, biên tập viên Đài Tiếng nói Việt Nam, Tổng thư ký Hội
Văn hóa cứu quốc Việt Nam, Hội Văn nghệ Việt Nam. Hoài Thanh là đảng
viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sau kháng chiến chống Pháp, làm vụ trưởng Vụ Nghệ thuật, Tổng thư ký
Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Viện phó Viện Văn học và
Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, ủy viên Đảng đoàn văn nghệ, ủy
viên thường vụ Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam và Chủ nhiệm tuần
báo Văn nghệ cho đến đầu năm 1975.
Nhà văn Hoài Thanh mất ngày 14 - 3 - 1982 tại Hà Nội.
Tác phẩm
Trước Cách mạng tháng Tám:
Viết các báo: “Phổ thông, Le Peuple, La Gazette de Huế, Tràng An, Sông
Hương, Tao Đàn. Năm 1936 cùng với Lưu Trọng Lư và Lê Tràng Kiều viết
quyển Văn chương và hành động (bị chính quyền thực dân cấm). Năm 1941
cùng với Hoài Chân biên soạn quyển Thi Nhân Việt Nam.
Sau cách mạng tháng Tám:
Đã in: Có một nền văn hóa Việt Nam (1946), Quyền sống của con người
trong Truyện Kiều của Nguyễn Du (1949). Nhân văn Việt Nam (1949), Nói
chuyện thơ kháng chiến (1951), Nam Bộ mến yêu (1955), Quê hương và thời
niên thiếu của Bác (cùng viết với Thanh Tịnh 1960), Phê bình và tiểu luận,
tập I (1960), tập II (1965), tập III (1971), Phan Bội Châu (1978), Chuyện
thơ (1978). Tuyển tập Hoài Thanh (2 tập, 1982 - 1983).
HOÀI CHÂN
Hoài Chân, em ruột Hoài Thanh, tên thật là Nguyễn Đức Phiên, sinh ngày
11 tháng 4 năm 1914 ở xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ Tĩnh.
Năm 1930, tham gia phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Năm 1931, giữa lúc
đang học ở trường Collège Vinh (Cao đẳng tiểu học) thì bị bắt và bị kết án tù
một năm.
Cuối năm 1932, sau khi ra tù, vào Huế kiếm sống đồng thời tự học để thi
tú tài.
Từ 1933, làm tại nhà in Đắc Lập rồi làm báo Tràng An và La Gazette de
Huế (Tờ báo thành Huế).
Cùng với Hoài Thanh và Lưu Trọng Lư xây dựng Ngân Sơn tùng thư
(1933 - 1935)
Năm 1941, cùng với Hoài Thanh biên soạn quyển Thi nhân Việt Nam.
Năm 1942, tự xuất bản quyển Thi nhân Việt Nam
Đầu năm 1945, tham gia Việt Minh rồi Tổng khỏi nghĩa tháng Tám ở
Huế.
Sau Cách mạng tháng Tám, lần lượt làm:
- Chủ nhiệm báo Quyết chiến, cơ quan ủy ban nhân dân Trung Bộ.
- Phó ban tuyên huấn tỉnh ủy Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ An.
- Trưởng ty Thông tin, Trưởng ty Văn hóa tỉnh Nghệ An.
- Phụ trách Nhà xuất bản Văn hóa.
- Phó giám đốc kiêm phó tổng biên tập Nhà xuất bản Văn học.
- Giám đốc kiêm tổng biên tập Nhà xuất bản Văn hóa (mới).
Đã nghỉ hưu.
Của tin, gọi một chút này làm ghi.
NGUYỄN DU
TẢN ĐÀ
(1889 - 1939)
CUNG CHIÊU ANH HỒN TẢN ĐÀ
Hội Tao đàn hôm nay đông đủ hầu khắp mặt thi nhân. Chúng tôi một lòng
thành kính xin rước anh hồn tiên sinh về chứng giám.
Anh em ở đây, tuy người sau kẻ trước, nhưng ai nấy đều là con đầu lòng
của thế kỷ hai mươi. Trên hội Tao đàn, chỉ tiên sinh là người của hai thế kỷ.
Tiên sinh sẽ đại diện cho một lớp người để chứng giám công việc lớp người
kế tiếp. Ở địa vị ấy còn có ai xứng đáng hơn tiên sinh.
Tiên sinh gần chúng tôi lắm. Tiên sinh không mang lốt y phục, lốt tư
tưởng của chúng tôi. Nhưng có làm gì những cái lốt. Tiên sinh đã cùng
chúng tôi chia sẻ một nỗi khát vọng thiết tha, nỗi khát vọng thoát ly ra ngoài
cái tù túng, cái giả dối, cái khô khan của khuôn sáo. Đôi bài thơ của tiên
sinh ra đời từ hơn hai mươi năm trước đã có một giọng phóng túng riêng.
Tiên sinh đã dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kỳ
đương sắp sửa.
Nhưng dầu sao, với chúng tôi tiên sinh vẫn là một bực đàn anh; chúng tôi
không dám xem tiên sinh như một người bạn. Tiên sinh còn giữ được của
thời trước cái cốt cách vững vàng cái phong thái ung dung. Đời tiên sinh tuy
bơ vơ, hồn tiên sinh còn có nơi nương tựa. Tiên sinh đã đi qua giữa cái hỗn
độn của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ hai mươi với tấm lòng bình thản một
người thời trước. Những nỗi chật vật của cuộc sống hàng ngày, những cảnh
đời éo le thường phô bày ra trước mắt, không từng làm bợn được linh hồn
cao khiết của tiên sinh. Cái dáng điệu ngang tàng chúng tôi thường thấy ở
các nhà thơ xưa, ở tiên sinh không bao giờ có vẻ vay mượn. Cái buồn chán
của tiên sinh cũng là cái buồn chán một người trượng phu. Thở than có,
nhưng không bao giờ rên rỉ.
Bởi vậy cho nên cần phải có tiên sinh trong cuộc hội họp hôm nay. Có
tiên sinh người ta sẽ thấy rõ chúng tôi không phải là những quái thai của
thời đại, những đứa thất cước không có liên lạc gì với quá khứ của giống
nòi. Có tiên sinh, trên Tao đàn sẽ còn phảng phất chút bình yên trong tin
tưởng, chút thích thảng mà từ lâu chúng tôi đã mất.
Thôi, chúng tôi không muốn nói nhiều. Hội Tao đàn đến lúc mở. Xin tiên
sinh hãy khai hội bằng ít bài thơ.
THỀ NON NƯỚC
- Nước non nặng một lời thề,
Nước đi, đi mãi, không về cùng non,
Nhớ lời “nguyện nước thề non”,
Nước đi chưa lại, non còn đứng không.
- Non cao những ngóng cùng trông,
Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày,
Xương mai một nắm hao gầy,
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương.
Trời tây chiếu bóng tà dương,
Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha.
Non cao tuổi vẫn chưa già,
Non thời nhớ nước, nước mà quên non.
Dù như sông cạn đá mòn,
Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa.
- Non xanh đã biết hay chưa?
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn.
Nước non hội ngộ còn luôn,
Bảo cho non chớ có buồn làm chi.
Nước kìa dù hãy còn đi,
Ngàn đâu xanh tốt non thì cứ vui.
- Nghìn năm giao ước kết đôi,
Non non nước nước không nguôi lời thề.
TỐNG BIỆT
Lá đào rơi rắc lối Thiên thai,
Suối tiễn, oanh đưa, những ngậm ngùi.
Nửa năm tiên cảnh,
Một bước trần ai.
Ước cũ duyên thừa có thế thôi.
Đá mòn, rêu nhạt,
Nước chảy, huê trôi.
Cái hạc bay lên vút tận trời!
Trời đất từ nay xa cách mãi.
Cửa động,
Đầu non,
Đường lối cũ,
Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng soi.
MỘT THỜI ĐẠI TRONG THI
CA
Một xã hội suốt mấy ngàn năm kéo dài một cuộc sống gần như không
thay đổi, về hình thức cũng như về tinh thần. Triều đại tuy bao lần hưng
vong, giang sơn tuy bao lần đổi chủ, song mọi cuộc biến cố về chính trị ít khi
ba động đến sự sống của nhân dân. Từ đời này sang đời khác, đại khái chỉ có
bấy nhiêu tập tục, bấy nhiêu ý nghĩ, bấy nhiêu tin tưởng, cho đến những nỗi
yêu, ghét, vui, buồn, cơ hồ cũng nằm yên trong những khuôn khổ nhất định.
Thời gian ở đây đã ngừng lại và người ta chỉ sống trong không gian.
Nhưng, nhất đán, một cơn gió mạnh bỗng từ xa thổi đến. Cả nền tảng xưa
bị một phen điên đảo, lung lay. Sự gặp gỡ phương Tây là cuộc biến thiên lớn
nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ.
Phải trở lại cái thời tổ tiên ta mới tiếp xúc với người Trung Hoa, hơn nữa,
[1]
phải trở lại cái thời giống người Anh đô nê diêng lần thứ nhất để chân vào
lưu vực sông Hồng Hà mới hòng tìm được một cuộc biến thiên quan trọng
như vậy.
Trước mắt chúng ta bỗng bày ra những cảnh lạ lùng chưa bao giờ từng
thấy. Lúc đầu, ai nấy đều ngơ ngác, không hiểu ra làm sao. Nhưng rồi chúng
ta quen dần.
Chúng ta ở nhà tây, đội mũ tây, đi giày tây, mặc áo tây. Chúng ta dùng
đèn điện, đồng hồ, ô tô, xe lửa, xe đạp... còn gì nữa! Nói làm sao cho xiết
những điều thay đổi về vật chất, phương Tây đã đưa tới giữa chúng ta! Cho
đến những nơi hang cùng ngõ hẻm, cuộc sống cũng không còn giữ nguyên
hình ngày trước. Nào dầu tây, diêm tây, nào vải tây, chỉ tây, kim tây, đinh
tây. Đừng tưởng tôi nguỵ biện. Một cái đinh cũng mang theo nó một chút
quan niệm của phương Tây về nhân sinh, về vũ trụ, và có ngày ta sẽ thấy
thay đổi cả quan niệm của phương Đông. Những đồ dùng kiểu mới ấy chính
đã dẫn đường cho tư tưởng mới. Trong công cuộc duy tân, ảnh hưởng của nó
ít ra cũng ngang với ảnh hưởng những sách nghị luận của hiền triết Âu Mỹ,
cùng những sách cổ động của Khang, Lương. Sĩ phu nước ta từ xưa vốn chỉ
biết có Khổng Tử, bắt đầu dẫn Mạnh Đúc Tư Cưu với Lư Thoa. Họ bắt đầu
viết quốc ngữ, một thứ chữ mượn của người phương Tây. Câu văn của họ
cũng bắt đầu có cái rõ ràng, cái sáng sủa của văn tây. Những tư tưởng
phương Tây đầy dẫy trên Đông Dương tạp chí, trên Nam Phong tạp chí, và
từ hai cơ quan ấy thấm dần vào các hạng người có học. Người ta đua nhau
cho con em đến trường Pháp Việt, người ta gửi con em sang tận bên Pháp.
Thế rồi có những người Việt Nam đậu kỹ sư, đậu bác sĩ, đậu thạc sĩ; có
những người Việt Nam nghiên cứu khoa học, triết học; và có những người
Việt Nam nghĩ chuyện xây dựng một nền học riêng cho nước Việt Nam.
Bấy nhiêu sự thay đổi trong khoảng năm sáu mươi năm! Năm sáu mươi
năm mà như năm sáu mươi thế kỷ! Nhưng cuộc Âu hóa không phải chỉ có
thế. Nó đã đi qua hai giai đoạn: hình thức và tư tưởng; nó còn phải đi qua
một giai đoạn nữa. Nó đã thay đổi những tập quán sinh hoạt hàng ngày, nó
đã thay đổi cách ta vận động tư tưởng, tất nó sẽ thay đổi cả cái nhịp rung
cảm của ta nữa. Những hình thức mới của cuộc đời, những tư tưởng mới và
nhất là ảnh hưởng văn học Pháp ngày một thấm thía, ấy là những lợi khí Âu
hóa trong giai đoạn thứ ba này.
Phương Tây bây giờ đã đi tới chỗ sâu nhất trong hồn ta. Ta không còn có
thể vui cái vui ngày trước, buồn cái buồn ngày trước, yêu, ghét, giận hờn
nhất nhất như ngày trước. Đã đành ta chỉ có chừng ấy mối tình như con
người muôn nơi và muôn thuở. Nhưng sống trên đất Việt Nam ở đầu thế kỷ
hai mươi, những mối tình của ta không khỏi có cái màu sắc riêng, cái dáng
dấp riêng của thời đại.”... Các cụ ta ưa những màu đỏ choét; ta lại ưa những
màu xanh nhạt... Các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya; ta nao nao
vì tiếng gà lúc đứng ngọ. Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ các cụ coi như
đã làm một điều tội lỗi; ta thì cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng
xanh. Cái ái tình của các cụ thì chỉ là sự hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm
hình muốn trạng: cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gụi, cái
tình xa xôi... cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu...” Mấy câu nói xô
bồ, liều lĩnh mà tha thiết của Ô. Lưu Trọng Lư ở nhà Học hội Quy Nhơn hồi
năm 1934 đã vạch rõ tâm lý của lớp thanh niên chúng ta.
Tình chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng phải đổi mới vậy. Cái khát
vọng cởi trói cho thi ca chỉ là cái khát vọng nói rõ những điều kín nhiệm u
uất, cái khát vọng được thành thực. Một nỗi khát vọng khẩn thiết đến đau
đớn. Chính Ô. Lưu Trọng Lư cũng đã viết trong quyển Người sơn nhân hồi
mai 1933: “Người thanh niên Việt Nam ngày nay đương bơ vơ đi tìm người
thi nhân của mình như người con đi tìm mẹ”.
Đã thế, không thể xem phong trào thơ mới là một chuyện lập dị do một
bọn dốt nát bày đặt ra để kiếm chỗ ngồi trong làng thơ. Nó là kết quả không
thể không có của một cuộc biến thiên vĩ đại bắt đầu từ hồi nước ta sát nhập
đế quốc Pháp và, xa hơn nữa, từ hồi Nguyễn - Trịnh phân tranh, lúc người
Âu mới đến. Cái ngày người lái buôn phương Tây thứ nhất đặt chân lên xứ
ta, người ấy đã đem theo cùng với hàng hóa phương Tây, cái mầm sau này sẽ
nảy thành thơ mới.
*
* *
Nhưng tìm nguồn gốc thơ mới mà chỉ nói xa xôi thế, công việc nhà viết
sử cũng khí dễ dàng. Ta hãy tìm những nguyên nhân gần gụi hơn cùng
những triệu chứng của phong trào thơ mới.
Đã lâu, người mình làm thơ hầu hết chỉ làm những bài tám câu, mỗi cầu
[2]
bảy chữ. Theo Ô. Phan Khôi , lỗi ấy phải quy cho khoa cử. Phép thi ngày
xưa bắt học trò vào trường nhì làm một bài thơ theo thể thất ngôn luật. Thể
thất ngôn luật vốn mượn của thi nhân đời Đường, nhưng khi người ta đưa nó
vào khoa cử, nó còn bó buộc gấp mấy luật Đường. Theo luật Đường trong
một bài thơ tám câu, bốn câu giữa gọi là câu tam tứ, câu ngũ lục và muốn nói
gì thì nói. Phép khoa cử bắt phải gọi câu tam tứ là câu thực, nghĩa là phải
giải thích đầu đề cho rõ ràng, hai câu ngũ lục là câu luận, nghĩa là phải đem
ý đầu bài mà bàn rộng ra. Thí sinh làm thơ nhất định phải theo quy mô ấy.
Không theo, hỏng.
Nhưng chính phủ Bảo hộ lần lượt bỏ chế độ khoa cử, ở Nam Kỳ (1864?),
ở Bắc Kỳ (1915), ở Trung Kỳ (1918). Khoa cử bỏ, thể thất ngôn luật cũng
theo đó mà mất địa vị độc tôn. Năm 1917 nó bị Ô. Phạm Thượng Chi công
[3]
kích trong một bài bàn về tâm lý lối thơ ấy - Ông bảo: “Người ta thường
nói thơ là tiếng kêu tự nhiên của con tâm. Người Tàu định luật nghiêm cho
nghề làm thơ thực là muốn chữa lại, sửa lại cái tiếng kêu ấy, cho nó hay hơn,
trúng vần trúng điệu hơn, nhưng cũng nhân đó mà làm mất cái giọng thiên
nhiên đi vậy”. Tiếp đó ông phê bình bài thơ “Qua đèo Ngang” của Bà huyện
Thanh Quan:
“Rằng hay thì thực là hay.
Nhưng hay quá, khéo quá, phần nhân công nhiều mà vẻ tự nhiên ít, quả là
một bức tranh cảnh vậy”.
Thời oanh liệt của thất ngôn luật đã đến lúc tàn.
Năm 1928, nó bị Ô. Phan Khôi công kích trên Đông Pháp thời báo. Ông
[4]
Phan trách thể thơ “bó buộc quá mà mất cả sanh thú” .
Năm 1929, trên báo Phụ nữ tân văn Ô. Trịnh Đình Rư lại công kích nó
một lần nữa và hô hào người ta lưu tâm đến lối lục bát và song thất lục bát,
[5]
là những lối thơ đặc biệt của ta .
Thực ra, từ trước, trên sách vở báo chương thỉnh thoảng thất ngôn luật
cũng đã phải nhường chỗ cho lục bát, song thất lục bát, cổ phong, từ
khúc.v.v... Lác đác người ta còn thấy xuất hiện những bài không niêm,
không luật, không hạn chữ, hạn câu. Ấy là bài dịch thơ ngụ ngôn La Cigale
[6]
et la Fourmi của Nguyễn Văn Vĩnh :
Con ve sầu kêu ve ve suốt mùa hè
Đến kỳ gió bấc thổi
Nguồn cơn thật bối rối...
[7]
Ấy là những bài gọi là thơ buông của một sinh viên trường Cao đẳng.
Ô. Lê Khánh Đồng, đã làm một trò cười cho chúng ta hồi nhỏ.
Những bài như thế mà dám mạo danh là thơ, cứ thời bấy giờ thực đáng
khép vào tội phạm thượng. Một sự biến cố dường ấy mà xảy ra được, dầu
không được công nhận, cũng đủ chứng rằng cái thời vận luật Đường đã cực
kỳ suy vi.
Khuôn khổ bài thơ bắt đầu rạn nứt. Một sức mạnh đương ngấm ngầm
hoạt động trong tâm linh nòi giống. Nói cho đúng, chúng ta cũng chỉ phỏng
đoán chứ thực ra chưa thấy gì. Thi thể có ít nhiều thay đổi mà thi tứ vẫn như
xưa. Chỉ trong đôi bài thơ của Tản Đà mới thấy phảng phất chút bâng
khuâng, chút phóng túng của thời sau. Ngoài ra, người ta vẫn ca đi hát lại
bấy nhiêu đề thơ bằng bấy nhiêu giọng thơ không di dịch. Cửa hé mở từ lâu
nhưng ngọn gió xa đón hoài không thấy tới. Xã hội Việt Nam chưa đến tuần
thành thục. Chưa có thể nhóm đậy một cuộc cách mệnh về thi ca.
*
* *
Nhưng một ngày kia cuộc cách mệnh về thi ca đã nhóm dậy. Ngày ấy là
[8]
ngày 10 mars 1932 . Lần đầu tiên trong thành trì thơ cũ hiện ra một lỗ
thủng. Ô. Phan Khôi hăng hái như một vị tướng quân, dõng dạc bước ra trận.
Ông tự giới thiệu: “Trước kia... ít ra trong một năm tôi cùng có được năm
bảy bài, hoặc bằng chữ Hán, hoặc bằng chữ Nôm; mà năm bảy bài của tôi,
không phải nói phách, đều là năm bảy bài nghe được”. Ấy thế đó mà ông kết
án thơ cũ! “Thơ cốt chơn. Thơ cũ bị câu thúc quá nên bị mất chơn”. Bởi vậy
ông bày ra một lối thơ “đem ý thật có trong tâm khảm mình tả ra bằng những
câu có vần mà không bó buộc bởi niêm luật gì hết” và tạm mệnh danh là thơ
mới.
Hồi bấy giờ Phụ nữ tân văn đương thời cực thịnh. Những lời nói của ông
[9]
Phan được truyền bá đi khắp nơi. Cái bài thơ mới “Tình già” ông dẫn ra
làm thí dụ, không rõ có được ai thích không, nhưng một số đông thanh niên
trong nước bỗng thấy mở ra một góc trời vì cái táo bạo giấu giếm của mình
đã được một bực đàn anh trong văn giới công nhiên thừa nhận.
Lần lượt những bài thơ mới, vốn làm từ trước, được đưa lên mặt báo.
Người hưởng ứng thứ nhất là Ô. Lưu Trọng Lư. Sau khi đăng bài của Ô.
Phan Khôi chẳng bao lâu, Phụ nữ tân văn nhận được một bức thư hoan
nghênh ký cô Liên Hương (Faifo), một bài thơ mới “Trên đường đời” ký
Lưu Trọng Lư và một bài nữa “Vắng khách thơ” ký Thanh Tâm. Ký nhiều
tên cho rộn thế thôi chứ đi lại cũng chỉ một người. 'Tình già”, “Trên đường
đời”, và “Vắng khách thơ” là ba bài mang tên thơ mới được đăng báo trước
[10]
nhất. Trong ba bài ấy thì bài thứ ba đã là một bài có giá trị
. Kế đó, Phụ
nữ tân văn còn đăng thơ mới của Nguyễn Thị Manh Manh (tức Nguyễn Thị
Kiêm), của Hồ Văn Hảo và nhiều người nữa.
Nhưng rồi phong trào thơ mới chuyển ra đất Bắc và được một cơ quan
ngôn luận khác ủng hộ một cách đắc lực hơn.
Báo Phong hóa tập mới ra đời ngày 22 Septembre 1932. Ngay số đầu đã
có bài công kích thơ Đường luật và kết luận rằng: “Thơ ta phải mới, mới văn
thể, mới ý tưởng”. Từ đó cho đến cuối năm 1932, Phong hóa không đăng thơ
mới nhưng cũng không đăng thơ cũ. Phong hóa lại còn giễu thơ cũ bằng
cách giễu Tản Đà, người đại biểu chính thức cho nền thơ cũ. Bài “Cảm thu
tiễn thu” của Tản Đà đã làm đầu đề cho một bức tranh khôi hài của Đông
Sơn và một bài hát nói khôi hài của Tú Mỡ. Họ so sánh cảnh thực với cảnh
mộng trong trí tưởng thi nhân. Tú Mỡ viết:
Cây tươi tốt, lá còn xanh ngắt,
Bói đâu ra lác đác lá ngô vàng!
Trên dường đi nóng dãy như rang,
Cảnh tuyết phủ mơ màng thêm quái lạ!
…
Phá hoại rồi họ kiến thiết. Nhận được của Ô. Lưu Trọng Lư bức thư gửi
cho Ô. Phan Khôi mấy tháng trước, họ trịnh trọng đăng lại trên Phong hóa
số Tết ra ngày 24 janvier 1933 cùng với ít bài thơ mới của Lưu Trọng Lư,
Tân Việt, Thế Lữ. Tiếp theo đó, Phong hóa luôn luôn đăng thơ mới của Tứ
Ly, Thế Lữ, Nhất Linh, Nguyễn Văn Kiện, Vũ Đình Liên, Đoàn Phú Tứ,
Huy Thông.
Các báo chí khác cũng đua nhau đăng thơ mới. Ở Huế, Ngân Sơn tùng thư
ra đời ngày 15 Septembre 1933, liền xuất bản với ít truyện ngắn, một tập thơ
[11]
mới của Lưu Trọng Lư
.
Thơ mới đã bắt đầu có cơ sở. Trong làng thơ mới người ta càng sốt sắng
thêm. Từ hai tháng trước, hôm 26 juillet 1933, một nữ sĩ có tài và có gan, cô
Nguyễn Thị Kiêm, đã lên diễn đàn hội Khuyến học Sài Gòn hết sức tán
dương thơ mới. Hội Khuyến học Sài Gòn thành lập đến bấy giờ đã 25 năm.
Lần thứ nhất một bạn gái lên diễn đàn và cũng lần thứ nhất có một cuộc diễn
thuyết được đông người nghe như thế.
Nối gót cô Nguyễn Thị Kiêm, còn nhiều diễn giải cũng theo một mục
đích: giành lấy phần thắng cho thơ mới:
Juin 1934: Ô. Lưu Trọng Lư diễn thuyết tại nhà Học hội Quy Nhơn.
Janvier 1935: Ô. Đỗ Đức Vượng diễn thuyết tại hội Trí tri Hà Nội.
Janvier 1935: cô Nguyễn Thị Kiêm lại diễn thuyết tại hội Khuyến học Sài
Gòn để tranh luận với Ô. Nguyễn Văn Hanh.
Novembre 1935: Ô. Vũ Đình Liên diễn thuyết tại hội Trí tri Nam Định.
Fébrier 1936: Ô. Trương Tửu diễn thuyết về thơ Bạch Nga tại hội Khai trí
tiến đức Hà Nội.
Trên báo chương cũng luôn luôn có những bài bênh vực, khích lệ thơ
mới. Ô. Lưu Trọng Lư gửi hai bức thư lên Khê Thượng nói chuyện thơ mới
[12]
với Tản Đà
. Ô. Lê Tràng Kiều viết tám bài ca tụng các nhà thơ mới để
[13]
trả lời Ô. Tùng Lâm và Ô. Thái Phi
. Ngoài ra còn bao nhiêu bài nữa.
Ở cái xứ vô sự này, câu chuyện câu thơ cơ hồ là câu chuyện độc nhất của
một số đông thanh niên nam nữ. Nhưng đã đến lúc những lời hùng biện trở
nên vô dụng. Những thi sĩ có danh đã ra đời: Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy
Thông, Nguyễn Nhược Pháp, J.Leiba, Thái Can. Trong khoảng bốn năm, đã
sản xuất rất nhiều bài thơ có giá trị. Và những bài thơ ấy, nhất là những bài
của Thế Lữ, không trống không kèn đã bênh vực một cách vững vàng cho
thơ mới.
1935, cái năm đại náo trong làng thơ, đi qua. Bước sang 1936 sự toàn
thắng của thơ mới đã rõ rệt. Đề tựa tập Những áng thơ hay, Ô. Lê Tràng
Kiều bàn nên xóa bỏ hai chữ thơ mới. Vì “hai chữ thơ mới là biểu hiện một
cuộc cách mệnh đương bồng bột” mà “cuộc cách mệnh về thi ca ngày nay đã
yên lặng như mặt nước hồ thu”. Ô. Lưu Trọng Lư nở một nụ cười kiêu hãnh,
đăng trên Hanoi báo (19-2-1936) một bài thơ thất ngôn sách họa kết bằng
hai câu:
Nắn nót miền sao nên bốn vế,
Chẳng thơ thì cũng cóc cần thơ.
Cái cười khinh mạn của người chiến thắng kể không có gì đáng ưa. Thế
Lữ, khôn hơn, chỉ lẳng lặng nói chuyện với người đồng hương - những
người trong làng thơ mới. Từ mục “Lá thắm” của Tinh hoa đến mục “Tin
thơ” của Ngày nay, từ mai 1937 đến octobre 1938, Thế Lữ chăm chú dạy
nghề thơ cho những ai nuôi giấc mộng một ngày kia trở nên thi sĩ.
Thơ mới ra đời ngày một nhiều, cái danh hiệu thơ mới mất dần trên sách
báo. Thi đàn đã vắng tiếng cãi nhau. Cho đến hồi juin năm nay, vì chuyện
[14]
thơ mới, Ô. Huỳnh Thúc Kháng và Ô. Phan Khôi bắt bẻ lẫn nhau
, làng
thơ Việt Nam không mấy ai để ý đến những lời qua tiếng lại giữa hai ông già
ấy.
Tấn kịch mới cũ trong phạm vi thi ca đã kết liễu. Thơ mới đã giành được
quyền sống. Nó chiếm hầu hết báo chí sách vở, đã len vào đến học
[15]
đường
. Mà đã vào học đường, nhất là ở nước ta, tức là thanh thế đã to
lắm.
*
* *
Trước sự bành trướng mãnh liệt của thơ mới, trước mọi sự hô hào rầm rộ
của những người trong phái mới, làng thơ cũ đã phản ứng như thế nào?
Août 1933: Một tuần sau cuộc diễn thuyết thứ nhất của cô Nguyễn Thị
[16]
Kiêm, Ô. Tân Việt, bình bút báo Công luận
bênh vực thơ cũ tại diễn đàn
hội Khuyến học Sài Gòn.
Octobre 1933: Văn học tạp chí, Hà Nội, chê các nhà thơ mới không biết
cân nhắc chữ dùng.
Novembre - décembre 1934: Tản Đà nói chuyện thơ mới, thơ cũ trên Tiểu
thuyết thứ bảy.
Décembre 1934: Trên Văn học tạp chí Ô. Hoàng Duy Từ phản đối bài
diễn thuyết của Ô. Lưu Trọng Lư tại nhà Học hội Quy Nhơn.
9 janvier 1935: Ô. Nguyễn Văn Hanh diễn thuyết tại hội Khuyến học Sài
Gòn.
16 janvier 1935: Ô. Nguyễn Văn Hanh lại diễn thuyết tại hội Khuyến học
Sài Gòn cùng một hôm với cô Nguyễn Thị Kiêm (diễn thuyết tranh luận).
Avril 1935: Hai Ô. Tường Vân và Phi Vân xuất bản tập thơ cũ Những
bông hoa trái mùa ở Vinh.
Juin 1935: Ô. Tùng Lâm Lê Cương phụng công kích thơ mới trên Văn
học tuần san, Sài Gòn.
Avril 1936: Ô. Thái Phi công kích thơ mới trên báo Tin văn, Hà Nội.
Août 1937: Ô. Nguyễn Văn Hanh diễn thuyết ở hội Quảng tri Huế.
Juin 1941: Ô. Huỳnh Thúc Kháng, sau nhiều lần chỉ trích và mạt sát, nói
cả quyết rằng thơ mới đã đến ngày mạt vận.
*
* *
Cũng rộn đấy chứ! Cái cảnh thơ cũ lúc tàn không đến nỗi buồn tẻ, thảm
hại như cái cảnh suy vi của nền Khổng học. Năm 1930, Ô. Phan Khôi viết
trên báo Thần chung ở Sài Gòn một thôi hai mươi mốt bài chỉ trích Khổng
giáo. Thế mà những môn đồ đạo Khổng còn sống sót nguội lạnh như không.
[17]
Tinh thần Khổng giáo ở nước ta đã bạc nhược lắm vậy. Tinh thần thơ cũ
có phần tráng kiện hơn. Gặp cơn nguy biến, còn có người ra tay chống chọi.
Nhưng rồi cũng không sao cứu vãn được tình thế. Chỉ có một người hoặc có
thể làm nên chuyện. Người ấy là Tản Đà một nhà thơ có tài. Nhưng đối với
phong trào thơ mới, Tản Đà lại hết sức dè dặt. Một người nữa, Ô. Hoàng
Duy Từ, trên Văn học tạp chí, cũng có nhiều câu có lý, nhưng ông lại chủ
trương cái thuyết của A. Chénier: tứ mới lời xưa. Và như thế ý kiến ông
giống hệt nhiều nhà thơ mới.
Còn các người khác họ lập luận đại khái bất ngoại mấy lối này:
Hoặc họ cho những nhà thơ mới là một bọn mù:
Chẳng khác anh mù lại nói mơ
[18]
Chẳng qua một bọn dốt làm thơ
Ý họ nghĩ rằng người ta làm thơ mới là chỉ vì luật thơ Đường khó. Nhưng
từ août 1933, thuật lại cuộc diễn thuyết của Ô. Tân Việt, Phụ nữ tân văn đã
trả lời trước họ: “Thơ tám câu cũng không phải khó gì. Nhiều người chỉ học
trong nửa tiếng đồng hồ là thuộc và có thể làm đúng niêm luật. Các báo hàng
ngày vẫn đăng luôn bao nhiêu là thơ bát cú của nhiều thí sĩ chỉ học trong có
mấy ngày là “thành tài”... Chúng tôi dám quả quyết như vậy là vì từ khi có
báo quốc ngữ đến nay, đã vài mươi năm, ở mục văn uyển các báo, thơ tám
câu, bốn câu mọc ra không phải như hoa lan, hoa huệ, hoa hồng, mà như
[19]
nấm”
.
Hoặc họ dẫn ra ít bài thơ mới lủng củng lủng ca để công kích cho tiện rồi
kết luận theo lối cái nhà thơ cũ nào đó đã gửi cho Ô. Lam Giang một bài bát
cú chê thơ mới:
Nghĩa lý vơ vơ rồi vẩn vẩn
Thanh âm ngẩn ngẩn lại ngơ ngơ
So với Á học như dưa đắng
[20]
Sánh với Âu văn tựa mít xơ...
Họ quên rằng chính những nhà thơ mới đã công kích thơ mới tàn nhẫn
nghĩa là công kíc...
 





