DANH NGÔN HAY

Theo tâm lý học, giữ im lặng không có nghĩa là bạn không có gì để nói, mà là bạn cho rằng họ chưa sẵn sàng để nghe suy nghĩ của bạn. - Khuyết Danh

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    BẢN TIN HÔM NAY

    Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z6522676591609_b3e220003660ce9886025cb13cd6e2c4.jpg Z6522677129001_17bd516d35a011319452a82197a3aa73.jpg Z6522677286602_b13ed08e2998a1b6aa9910ee881109d7.jpg Z6525839992969_6faa64b79d12133b30a6be09333c5fe5.jpg Z6522677277438_440ab32a671b5e99abb2b9aed75d5c32.jpg Z6522676894451_54bbe0164d862e9e7964e7c2cf8d3bfb.jpg Z6522666617591_24680573b313b2baec1c521b4c60396a.jpg Z6522666570038_2168275e97cf6625d777fac458ce428a.jpg Z6522666545919_91e1eedd56a040b4859d86787b11d179.jpg Z6522666535329_72be407fee4a8d60558e6d779134523c.jpg Z6522666523051_d64865c4feada596bab0d1461be81b4a.jpg Z6522666394947_7045ae98392b026ee38c2bebf4fdf07f.jpg Z6522666404399_cea6f503563075330893134b01a1c8ef.jpg Z6522666410186_de8ccd7cd52da73b72a027e645127e36.jpg Z6522666432361_108e04e8938d2911413f6c50550fa418.jpg Z6399458934835_e3020adc140a1d52f3ff1d736da89bb6.jpg Z6170081214203_5d91029c28dcd8e5fbdb451d75abc93a.jpg HS_dang_tim_doc_sach_tai_kho_mo.jpg HS_dang_tim_doc_sach_tai_kho_mo_3.jpg HS_dang_tim_doc_sach_tai_kho_mo_1.jpg

    SÁCH ĐIỆN TỬ - SÁCH BÁC HỒ

    LIÊN KẾT LIÊN THƯ VIỆN

    💕💕 Bước vào thư viện, ta không chỉ chạm vào những trang sách mà còn chạm vào tâm hồn của những vĩ nhân vĩ đại nhất💕💕

    Ý nghĩa của sách trong cuộc sống

    Thi nhân Việt Nam

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Thẩm
    Ngày gửi: 18h:10' 11-03-2024
    Dung lượng: 1.8 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    HOÀI THANH - HOÀI CHÂN

    THI NHÂN
    VIỆT NAM
    1932-1941
    NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    In theo bản in lần đầu
    NGUYỄN ĐỨC PHIÊN
    xuất bản năm 1942
    do nhà thơ Xuân Tâm cung cấp



    Cuốn eBook này được thực hiện tại
    Box Dự án eBook cho Thư viện
    trang http://tve-4u.org
    Với sự tham gia của:
    bookworm, windcity, lemontree123, Song Ngư, lungocyennhi, sun1911 và 4DHN

    Ngày hoàn thành: 30 Novembre 2013

    MỤC LỤC
    LỜI NHÀ XUẤT BẢN
    HOÀI THANH
    Tiểu sử
    Tác phẩm
    HOÀI CHÂN
    TẢN ĐÀ
    THỀ NON NƯỚC
    TỐNG BIỆT
    MỘT THỜI ĐẠI TRONG THI CA
    THẾ LỮ
    NHỚ RỪNG
    TIẾNG TRÚC TUYỆT VỜI
    TIẾNG SÁO THIÊN THAI
    BÊN SÔNG ĐƯA KHÁCH
    CÂY ĐÀN MUÔN ĐIỆU
    VẺ ĐẸP THOÁNG QUA
    GIÂY PHÚT CHẠNH LÒNG
    VŨ ĐÌNH LIÊN
    LÒNG TA LÀ NHỮNG HÀNG THÀNH QUÁCH CŨ
    ÔNG ĐỒ
    LAN SƠN
    VẾT THƯƠNG LÒNG
    TẾT VÀ NGƯỜI QUA...
    ĐÁM MA ĐI
    THANH TỊNH
    MÒN MỎI
    TƠ TRỜI VỚI TƠ LÒNG
    THÚC TỀ
    TRĂNG MƠ
    HUY THÔNG
    ANH NGA

    KHÚC TIÊU THIỀU
    NGUYỄN VỸ
    SƯƠNG RƠI
    GỬI TRƯƠNG TỬU
    ĐOÀN PHÚ TỨ
    MÀU THỜI GIAN
    BÌNH
    XUÂN DIỆU
    TRĂNG
    HUYỀN DIỆU
    TÌNH TRAI
    NHỊ HỒ
    ĐÂY MÙA THU TỚI
    VỘI VÀNG
    CHIỂU
    VIỄN KHÁCH
    TƯƠNG TƯ CHIỀU…
    LỜI KỸ NỮ
    NGUYỆT CẨM
    GIỤC GIÃ
    THU
    BUỒN TRĂNG
    HOA ĐÊM
    HUY CẬN
    BUỒN ĐÊM MƯA
    TÌNH TỰ
    ĐI GIỮA ĐƯỜNG THƠM
    ĐẸP XƯA
    TRÀNG GIANG
    VẠN LÝ TÌNH
    NHẠC SẦU
    NGẬM NGÙI
    THÚ RỪNG
    ÁO TRẮNG

    CHIỂU XUÂN
    TẾ HANH
    QUÊ HƯƠNG
    LỜI CON ĐƯỜNG QUÊ
    VU VƠ
    AO ƯỚC
    YẾN LAN
    BẾN MY LĂNG
    NHỚ
    PHẠM HẦU
    CHIỀU BUỒN
    VỌNG HẢI ĐÀI
    XUÂN TÂM
    XA LẠ
    NGHỈ HÈ
    THU HỒNG
    TƠ LÒNG VỚI ĐẸP
    ÊM ĐỀM
    MẢNH HỔN THƠ
    BÀNG BÁ LÂN
    TRƯA HÈ
    CỔNG LÀNG
    NAM TRÂN
    ĐẸP VÀ THƠ
    HUẾ, NGÀY HÈ
    HUẾ, ĐÊM HÈ
    TRƯỚC CHÙA THIÊN MỤ
    MÙA ĐÔNG
    GIẬN KHÚC NAM AI
    NẮNG THU
    ĐOÀN VĂN CỪ
    CHỢ TẾT
    ĐÁM CƯỚI MÙA XUÂN
    ĐÁM HỘI

    TRĂNG HÈ
    ANH THƠ
    CHIỀU XUÂN
    TRƯA HÈ
    RẰM THÁNG BẢY
    BẾN ĐÒ NGÀY XƯA
    HÀN MẶC TỬ
    BẼN LẼN
    TÌNH QUÊ
    MÙA XUÂN CHÍN
    TRƯỜNG TƯƠNG TƯ
    AVE MARIA
    ĐÊM XUÂN CẦU NGUYỆN
    RA ĐỜI
    CHẾ LAN VIÊN
    THỜI OANH LIỆT
    TA
    TRÊN ĐƯỜNG VỀ
    ĐÊM TÀN
    HỒN TRÔI
    THU
    XUÂN
    TRƯA ĐƠN GIẢN
    BÍCH KHÊ
    DUY TÂN
    XUÂN TƯỢNG TRƯNG
    J.LEIBA
    NĂM QUA
    MAI RỤNG
    HOA BẠC MỆNH
    BẾN GIÁC
    THÁI CAN
    CẢNH ĐÓ, NGƯỜI ĐÂU?
    CHIỂU THU

    TRÔNG CHỒNG
    ANH BIẾT EM ĐI...
    CẢNH ĐOẠN TRƯỜNG
    VÂN ĐÀI
    TIẾNG ĐÊM
    ĐỖ HUY NHIỆM
    ĐÌU HIU
    HOA TỦI
    SAY
    LƯU KỲ LINH
    ĐỢI CHỜ
    CÀNH HOA THU MUỘN
    CON BƯỚM TRẮNG
    NGUYỄN GIANG
    XUÂN
    CON ĐƯỜNG NẮNG
    MẸ
    QUÁCH TẤN
    ĐÀ LẠT ĐÊM SƯƠNG
    VỂ THĂM NHÀ CẢM TÁC
    ĐÊM THU NGHE QUẠ KÊU
    ĐÊM TÌNH
    MỘNG THẤY HÀN MẶC TỬ
    TRƠ TRỌI
    CHIỀU XUÂN
    BÊN SÔNG
    TÌNH XƯA
    PHAN KHẮC KHOAN
    THÂM TÂM
    TỐNG BIỆT HÀNH
    PHAN THANH PHƯỚC
    ĐÊM TẦN
    LƯU TRỌNG LƯ
    NẮNG MỚI

    THƠ SẦU RỤNG
    GIANG HỒ
    TIẾNG THU
    TÌNH ĐIÊN
    CÒN CHI NỮA
    XUÂN VỀ
    MỘT MÙA ĐÔNG
    CHIỂU CỔ
    DIỆU HUYỀN
    THÚ ĐAU THƯƠNG
    NGUYỄN NHƯỢC PHÁP
    TAY NGÀ
    CHÙA HƯƠNG
    PHAN VĂN DẬT
    TIỄN ĐƯA
    BI XUÂN NƯƠNG
    NÀNG CON GÁI HỌ DƯƠNG
    ĐÔNG HỒ
    CÔ GÁI XUÂN
    MUA ÁO
    TUỔI XUÂN
    BỐN CÁI HÔN
    MỘNG TUYẾT
    DƯƠNG LIỄU TÂN THANH
    VÌ ANH THỌ XUÂN
    NGUYỄN XUÂN HUY
    GIẬN NHAU
    EM ĐƯƠNG THÊU...
    HẰNG PHƯƠNG
    LÒNG QUÊ
    NGUYỄN BÍNH
    TƯƠNG TƯ
    HAI LÒNG
    GIẤC MƠ ANH LÁI ĐÒ

    QUAN TRẠNG
    LẲNG LƠ
    XA CÁCH
    NGƯỜI HÀNG XÓM
    XUÂN VỀ
    VŨ HOÀNG CHƯƠNG
    SAY ĐI EM
    NGHE HÁT
    QUÊN
    PHƯƠNG XA
    MỘNG HUYỀN
    VƯỜN HOANG
    NGUYỄN ĐÌNH THƯ
    ĐẾN CHIỂU
    SANG NGANG
    TỐNG BIỆT
    VƯƠNG TÌNH
    THIỆT THÀ
    T.T.KH.
    TRẦN HUYỀN TRÂN
    NHỎ TO…
    LỜI CUỐI SÁCH

    LỜI NHÀ XUẤT BẢN
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    Hơn nửa thế kỷ trước đây, phong trào Thơ mới đã có những đóng góp
    đáng kể vào sự phát triển của nền văn học trước Cách mạng tháng Tám của
    đất nước. Các thi sĩ của thuở ấy đã đem lại cho bạn đọc một tiếng nói mới,
    phản ánh khá trung thực tâm trạng của cả một lớp thanh niên tiểu tư sản
    trong cuộc sống có nhiều đau buồn, trăn trở và đôi khi bế tắc trước hiện
    trạng của đất nước thời bấy giờ. Với sự đổi mới mạnh mẽ của hình thức nghệ
    thuật, Thơ mới thực sự đã thu hút được sự chú ý của khá đông bạn đọc yêu
    thơ và đó cũng là một đóng góp có ý nghĩa vào sự phát triển của thể loại và
    chứng minh khả năng biểu đạt phong phú của tiếng Việt.
    Ngay lúc bây giờ hai tác giả Hoài Thanh và Hoài Chân đã sớm nhận ra
    giá trị ấy và đã kịp thời sưu tầm, giới thiệu các thành tựu của phong trào Thơ
    mới qua tác phẩm Thi nhân Việt Nam và đã cho xuất bản vào đầu năm
    1942.
    Thi nhân Việt Nam là sự khám phá và đánh giá đầu tiên đối với Thơ mới.
    Chúng ta đều biết việc lựa chọn tác phẩm và tác giả đương thời, nhất là
    những người mới xuất hiện trên văn đàn, là một việc làm hết sức khó khăn,
    nhưng với sự cảm thụ khá sâu sắc và với cái nhìn tinh tế, các tác giả đã chọn
    được một chùm hoa giàu hương sắc trong vườn thơ mới đã gửi tặng những
    người yêu thơ. Chính vì thế Thi nhân Việt Nam đã được bạn đọc cả nước
    đón nhận và tán thưởng.
    Đáp đáp ứng nhu cầu của bạn đọc trong và ngoài nước, nhất là của những
    nhà nghiên cứu, những sinh viên văn khoa và đông đảo những người yêu
    thơ, Nhà xuất bản Văn học cho tái bản tác phẩm Thi nhân Việt Nam của
    Hoài Thanh và Hoài Chân trong Tủ sách nghiên cứu.
    Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, việc thẩm định lại những gia trị có thể có
    những thay đổi, nhưng để bảo đảm tính lịch sử của một tác phẩm đã xuất
    hiện trước đây, chúng tôi cho in nguyên văn của tác phẩm.
    Ngoài ra để có thêm tư liệu tham khảo cho bạn đọc, chúng tôi cho in thêm
    Lời cuối sách.
    Xin trân trọng giới thiệu Thi nhân Việt Nam cùng bạn đọc.

    NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC

    HOÀI THANH

    Tiểu sử
    Hoài Thanh tên thật là Nguyễn Đức Nguyên, sinh năm 1909, ở xã Nghi
    Trung, Huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ Tĩnh, trong một gia đình nhà nho nghèo
    có tham gia phong trào chống Pháp của Phan Bội Châu. Bắt đầu học chữ
    Hán, chữ quốc ngữ, rồi theo học trường Pháp Việt đến bậc trung học. Có
    tham gia phong trào yêu nước của học sinh trong dịp hai cụ Phan về nước.
    Năm 1927, gia nhập Tân Việt cách mệnh đảng. Năm 1930 đang học ở trường
    Bưởi (Hà Nội) thì bị bắt, bị kết án treo, bị đuổi ra khỏi trường. Kế đó viết
    báo, lại bị bắt, bị trục xuất ra khỏi Bắc Kỳ và giải về quê.
    Năm 1931 vào Huế, làm công cho một nhà in, đi dạy học tư, đồng thơi

    viết văn, viết báo.
    Tham gia tổng khỏi nghĩa tháng 8 - 1945. Từ đó lần lượt làm giáo sư ở
    Đại học Hà Nội, biên tập viên Đài Tiếng nói Việt Nam, Tổng thư ký Hội
    Văn hóa cứu quốc Việt Nam, Hội Văn nghệ Việt Nam. Hoài Thanh là đảng
    viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
    Sau kháng chiến chống Pháp, làm vụ trưởng Vụ Nghệ thuật, Tổng thư ký
    Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Viện phó Viện Văn học và
    Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, ủy viên Đảng đoàn văn nghệ, ủy
    viên thường vụ Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam và Chủ nhiệm tuần
    báo Văn nghệ cho đến đầu năm 1975.
    Nhà văn Hoài Thanh mất ngày 14 - 3 - 1982 tại Hà Nội.

    Tác phẩm
    Trước Cách mạng tháng Tám:
    Viết các báo: “Phổ thông, Le Peuple, La Gazette de Huế, Tràng An, Sông
    Hương, Tao Đàn. Năm 1936 cùng với Lưu Trọng Lư và Lê Tràng Kiều viết
    quyển Văn chương và hành động (bị chính quyền thực dân cấm). Năm 1941
    cùng với Hoài Chân biên soạn quyển Thi Nhân Việt Nam.
    Sau cách mạng tháng Tám:
    Đã in: Có một nền văn hóa Việt Nam (1946), Quyền sống của con người
    trong Truyện Kiều của Nguyễn Du (1949). Nhân văn Việt Nam (1949), Nói
    chuyện thơ kháng chiến (1951), Nam Bộ mến yêu (1955), Quê hương và thời
    niên thiếu của Bác (cùng viết với Thanh Tịnh 1960), Phê bình và tiểu luận,
    tập I (1960), tập II (1965), tập III (1971), Phan Bội Châu (1978), Chuyện
    thơ (1978). Tuyển tập Hoài Thanh (2 tập, 1982 - 1983). 

    HOÀI CHÂN

    Hoài Chân, em ruột Hoài Thanh, tên thật là Nguyễn Đức Phiên, sinh ngày
    11 tháng 4 năm 1914 ở xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ Tĩnh.
    Năm 1930, tham gia phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Năm 1931, giữa lúc
    đang học ở trường Collège Vinh (Cao đẳng tiểu học) thì bị bắt và bị kết án tù
    một năm.
    Cuối năm 1932, sau khi ra tù, vào Huế kiếm sống đồng thời tự học để thi
    tú tài.
    Từ 1933, làm tại nhà in Đắc Lập rồi làm báo Tràng An và La Gazette de
    Huế (Tờ báo thành Huế).
    Cùng với Hoài Thanh và Lưu Trọng Lư xây dựng Ngân Sơn tùng thư
    (1933 - 1935)
    Năm 1941, cùng với Hoài Thanh biên soạn quyển Thi nhân Việt Nam.
    Năm 1942, tự xuất bản quyển Thi nhân Việt Nam

    Đầu năm 1945, tham gia Việt Minh rồi Tổng khỏi nghĩa tháng Tám ở
    Huế.
    Sau Cách mạng tháng Tám, lần lượt làm:
    - Chủ nhiệm báo Quyết chiến, cơ quan ủy ban nhân dân Trung Bộ.
    - Phó ban tuyên huấn tỉnh ủy Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ An.
    - Trưởng ty Thông tin, Trưởng ty Văn hóa tỉnh Nghệ An.
    - Phụ trách Nhà xuất bản Văn hóa.
    - Phó giám đốc kiêm phó tổng biên tập Nhà xuất bản Văn học.
    - Giám đốc kiêm tổng biên tập Nhà xuất bản Văn hóa (mới).
    Đã nghỉ hưu.

    Của tin, gọi một chút này làm ghi.
    NGUYỄN DU


    TẢN ĐÀ

    (1889 - 1939)

    CUNG CHIÊU ANH HỒN TẢN ĐÀ
    Hội Tao đàn hôm nay đông đủ hầu khắp mặt thi nhân. Chúng tôi một lòng
    thành kính xin rước anh hồn tiên sinh về chứng giám.
    Anh em ở đây, tuy người sau kẻ trước, nhưng ai nấy đều là con đầu lòng
    của thế kỷ hai mươi. Trên hội Tao đàn, chỉ tiên sinh là người của hai thế kỷ.
    Tiên sinh sẽ đại diện cho một lớp người để chứng giám công việc lớp người
    kế tiếp. Ở địa vị ấy còn có ai xứng đáng hơn tiên sinh.
    Tiên sinh gần chúng tôi lắm. Tiên sinh không mang lốt y phục, lốt tư
    tưởng của chúng tôi. Nhưng có làm gì những cái lốt. Tiên sinh đã cùng
    chúng tôi chia sẻ một nỗi khát vọng thiết tha, nỗi khát vọng thoát ly ra ngoài
    cái tù túng, cái giả dối, cái khô khan của khuôn sáo. Đôi bài thơ của tiên
    sinh ra đời từ hơn hai mươi năm trước đã có một giọng phóng túng riêng.
    Tiên sinh đã dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kỳ
    đương sắp sửa.
    Nhưng dầu sao, với chúng tôi tiên sinh vẫn là một bực đàn anh; chúng tôi

    không dám xem tiên sinh như một người bạn. Tiên sinh còn giữ được của
    thời trước cái cốt cách vững vàng cái phong thái ung dung. Đời tiên sinh tuy
    bơ vơ, hồn tiên sinh còn có nơi nương tựa. Tiên sinh đã đi qua giữa cái hỗn
    độn của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ hai mươi với tấm lòng bình thản một
    người thời trước. Những nỗi chật vật của cuộc sống hàng ngày, những cảnh
    đời éo le thường phô bày ra trước mắt, không từng làm bợn được linh hồn
    cao khiết của tiên sinh. Cái dáng điệu ngang tàng chúng tôi thường thấy ở
    các nhà thơ xưa, ở tiên sinh không bao giờ có vẻ vay mượn. Cái buồn chán
    của tiên sinh cũng là cái buồn chán một người trượng phu. Thở than có,
    nhưng không bao giờ rên rỉ.
    Bởi vậy cho nên cần phải có tiên sinh trong cuộc hội họp hôm nay. Có
    tiên sinh người ta sẽ thấy rõ chúng tôi không phải là những quái thai của
    thời đại, những đứa thất cước không có liên lạc gì với quá khứ của giống
    nòi. Có tiên sinh, trên Tao đàn sẽ còn phảng phất chút bình yên trong tin
    tưởng, chút thích thảng mà từ lâu chúng tôi đã mất.
    Thôi, chúng tôi không muốn nói nhiều. Hội Tao đàn đến lúc mở. Xin tiên
    sinh hãy khai hội bằng ít bài thơ.

    THỀ NON NƯỚC
    - Nước non nặng một lời thề,
    Nước đi, đi mãi, không về cùng non,
    Nhớ lời “nguyện nước thề non”,
    Nước đi chưa lại, non còn đứng không.
    - Non cao những ngóng cùng trông,
    Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày,
    Xương mai một nắm hao gầy,
    Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương.
    Trời tây chiếu bóng tà dương,
    Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha.
    Non cao tuổi vẫn chưa già,
    Non thời nhớ nước, nước mà quên non.

    Dù như sông cạn đá mòn,
    Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa.
    - Non xanh đã biết hay chưa?
    Nước đi ra bể lại mưa về nguồn.
    Nước non hội ngộ còn luôn,
    Bảo cho non chớ có buồn làm chi.
    Nước kìa dù hãy còn đi,
    Ngàn đâu xanh tốt non thì cứ vui.
    - Nghìn năm giao ước kết đôi,
    Non non nước nước không nguôi lời thề.

    TỐNG BIỆT
    Lá đào rơi rắc lối Thiên thai,
    Suối tiễn, oanh đưa, những ngậm ngùi.
    Nửa năm tiên cảnh,
    Một bước trần ai.
    Ước cũ duyên thừa có thế thôi.
    Đá mòn, rêu nhạt,
    Nước chảy, huê trôi.
    Cái hạc bay lên vút tận trời!
    Trời đất từ nay xa cách mãi.
    Cửa động,
    Đầu non,
    Đường lối cũ,
    Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng soi.

    MỘT THỜI ĐẠI TRONG THI
    CA
    Một xã hội suốt mấy ngàn năm kéo dài một cuộc sống gần như không
    thay đổi, về hình thức cũng như về tinh thần. Triều đại tuy bao lần hưng
    vong, giang sơn tuy bao lần đổi chủ, song mọi cuộc biến cố về chính trị ít khi
    ba động đến sự sống của nhân dân. Từ đời này sang đời khác, đại khái chỉ có
    bấy nhiêu tập tục, bấy nhiêu ý nghĩ, bấy nhiêu tin tưởng, cho đến những nỗi
    yêu, ghét, vui, buồn, cơ hồ cũng nằm yên trong những khuôn khổ nhất định.
    Thời gian ở đây đã ngừng lại và người ta chỉ sống trong không gian.
    Nhưng, nhất đán, một cơn gió mạnh bỗng từ xa thổi đến. Cả nền tảng xưa
    bị một phen điên đảo, lung lay. Sự gặp gỡ phương Tây là cuộc biến thiên lớn
    nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ.
    Phải trở lại cái thời tổ tiên ta mới tiếp xúc với người Trung Hoa, hơn nữa,
    [1]
    phải trở lại cái thời giống người Anh đô nê diêng lần thứ nhất để chân vào
    lưu vực sông Hồng Hà mới hòng tìm được một cuộc biến thiên quan trọng
    như vậy.
    Trước mắt chúng ta bỗng bày ra những cảnh lạ lùng chưa bao giờ từng
    thấy. Lúc đầu, ai nấy đều ngơ ngác, không hiểu ra làm sao. Nhưng rồi chúng
    ta quen dần.
    Chúng ta ở nhà tây, đội mũ tây, đi giày tây, mặc áo tây. Chúng ta dùng
    đèn điện, đồng hồ, ô tô, xe lửa, xe đạp... còn gì nữa! Nói làm sao cho xiết
    những điều thay đổi về vật chất, phương Tây đã đưa tới giữa chúng ta! Cho
    đến những nơi hang cùng ngõ hẻm, cuộc sống cũng không còn giữ nguyên
    hình ngày trước. Nào dầu tây, diêm tây, nào vải tây, chỉ tây, kim tây, đinh
    tây. Đừng tưởng tôi nguỵ biện. Một cái đinh cũng mang theo nó một chút
    quan niệm của phương Tây về nhân sinh, về vũ trụ, và có ngày ta sẽ thấy
    thay đổi cả quan niệm của phương Đông. Những đồ dùng kiểu mới ấy chính
    đã dẫn đường cho tư tưởng mới. Trong công cuộc duy tân, ảnh hưởng của nó
    ít ra cũng ngang với ảnh hưởng những sách nghị luận của hiền triết Âu Mỹ,
    cùng những sách cổ động của Khang, Lương. Sĩ phu nước ta từ xưa vốn chỉ
    biết có Khổng Tử, bắt đầu dẫn Mạnh Đúc Tư Cưu với Lư Thoa. Họ bắt đầu
    viết quốc ngữ, một thứ chữ mượn của người phương Tây. Câu văn của họ

    cũng bắt đầu có cái rõ ràng, cái sáng sủa của văn tây. Những tư tưởng
    phương Tây đầy dẫy trên Đông Dương tạp chí, trên Nam Phong tạp chí, và
    từ hai cơ quan ấy thấm dần vào các hạng người có học. Người ta đua nhau
    cho con em đến trường Pháp Việt, người ta gửi con em sang tận bên Pháp.
    Thế rồi có những người Việt Nam đậu kỹ sư, đậu bác sĩ, đậu thạc sĩ; có
    những người Việt Nam nghiên cứu khoa học, triết học; và có những người
    Việt Nam nghĩ chuyện xây dựng một nền học riêng cho nước Việt Nam.
    Bấy nhiêu sự thay đổi trong khoảng năm sáu mươi năm! Năm sáu mươi
    năm mà như năm sáu mươi thế kỷ! Nhưng cuộc Âu hóa không phải chỉ có
    thế. Nó đã đi qua hai giai đoạn: hình thức và tư tưởng; nó còn phải đi qua
    một giai đoạn nữa. Nó đã thay đổi những tập quán sinh hoạt hàng ngày, nó
    đã thay đổi cách ta vận động tư tưởng, tất nó sẽ thay đổi cả cái nhịp rung
    cảm của ta nữa. Những hình thức mới của cuộc đời, những tư tưởng mới và
    nhất là ảnh hưởng văn học Pháp ngày một thấm thía, ấy là những lợi khí Âu
    hóa trong giai đoạn thứ ba này.
    Phương Tây bây giờ đã đi tới chỗ sâu nhất trong hồn ta. Ta không còn có
    thể vui cái vui ngày trước, buồn cái buồn ngày trước, yêu, ghét, giận hờn
    nhất nhất như ngày trước. Đã đành ta chỉ có chừng ấy mối tình như con
    người muôn nơi và muôn thuở. Nhưng sống trên đất Việt Nam ở đầu thế kỷ
    hai mươi, những mối tình của ta không khỏi có cái màu sắc riêng, cái dáng
    dấp riêng của thời đại.”... Các cụ ta ưa những màu đỏ choét; ta lại ưa những
    màu xanh nhạt... Các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya; ta nao nao
    vì tiếng gà lúc đứng ngọ. Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ các cụ coi như
    đã làm một điều tội lỗi; ta thì cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng
    xanh. Cái ái tình của các cụ thì chỉ là sự hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm
    hình muốn trạng: cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gụi, cái
    tình xa xôi... cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu...” Mấy câu nói xô
    bồ, liều lĩnh mà tha thiết của Ô. Lưu Trọng Lư ở nhà Học hội Quy Nhơn hồi
    năm 1934 đã vạch rõ tâm lý của lớp thanh niên chúng ta.
    Tình chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng phải đổi mới vậy. Cái khát
    vọng cởi trói cho thi ca chỉ là cái khát vọng nói rõ những điều kín nhiệm u
    uất, cái khát vọng được thành thực. Một nỗi khát vọng khẩn thiết đến đau
    đớn. Chính Ô. Lưu Trọng Lư cũng đã viết trong quyển Người sơn nhân hồi
    mai 1933: “Người thanh niên Việt Nam ngày nay đương bơ vơ đi tìm người
    thi nhân của mình như người con đi tìm mẹ”.
    Đã thế, không thể xem phong trào thơ mới là một chuyện lập dị do một
    bọn dốt nát bày đặt ra để kiếm chỗ ngồi trong làng thơ. Nó là kết quả không

    thể không có của một cuộc biến thiên vĩ đại bắt đầu từ hồi nước ta sát nhập
    đế quốc Pháp và, xa hơn nữa, từ hồi Nguyễn - Trịnh phân tranh, lúc người
    Âu mới đến. Cái ngày người lái buôn phương Tây thứ nhất đặt chân lên xứ
    ta, người ấy đã đem theo cùng với hàng hóa phương Tây, cái mầm sau này sẽ
    nảy thành thơ mới.
    *
    * *
    Nhưng tìm nguồn gốc thơ mới mà chỉ nói xa xôi thế, công việc nhà viết
    sử cũng khí dễ dàng. Ta hãy tìm những nguyên nhân gần gụi hơn cùng
    những triệu chứng của phong trào thơ mới.
    Đã lâu, người mình làm thơ hầu hết chỉ làm những bài tám câu, mỗi cầu
    [2]
    bảy chữ. Theo Ô. Phan Khôi , lỗi ấy phải quy cho khoa cử. Phép thi ngày
    xưa bắt học trò vào trường nhì làm một bài thơ theo thể thất ngôn luật. Thể
    thất ngôn luật vốn mượn của thi nhân đời Đường, nhưng khi người ta đưa nó
    vào khoa cử, nó còn bó buộc gấp mấy luật Đường. Theo luật Đường trong
    một bài thơ tám câu, bốn câu giữa gọi là câu tam tứ, câu ngũ lục và muốn nói
    gì thì nói. Phép khoa cử bắt phải gọi câu tam tứ là câu thực, nghĩa là phải
    giải thích đầu đề cho rõ ràng, hai câu ngũ lục là câu luận, nghĩa là phải đem
    ý đầu bài mà bàn rộng ra. Thí sinh làm thơ nhất định phải theo quy mô ấy.
    Không theo, hỏng.
    Nhưng chính phủ Bảo hộ lần lượt bỏ chế độ khoa cử, ở Nam Kỳ (1864?),
    ở Bắc Kỳ (1915), ở Trung Kỳ (1918). Khoa cử bỏ, thể thất ngôn luật cũng
    theo đó mà mất địa vị độc tôn. Năm 1917 nó bị Ô. Phạm Thượng Chi công
    [3]
    kích trong một bài bàn về tâm lý lối thơ ấy - Ông bảo: “Người ta thường
    nói thơ là tiếng kêu tự nhiên của con tâm. Người Tàu định luật nghiêm cho
    nghề làm thơ thực là muốn chữa lại, sửa lại cái tiếng kêu ấy, cho nó hay hơn,
    trúng vần trúng điệu hơn, nhưng cũng nhân đó mà làm mất cái giọng thiên
    nhiên đi vậy”. Tiếp đó ông phê bình bài thơ “Qua đèo Ngang” của Bà huyện
    Thanh Quan:
    “Rằng hay thì thực là hay.
    Nhưng hay quá, khéo quá, phần nhân công nhiều mà vẻ tự nhiên ít, quả là
    một bức tranh cảnh vậy”.
    Thời oanh liệt của thất ngôn luật đã đến lúc tàn.
    Năm 1928, nó bị Ô. Phan Khôi công kích trên Đông Pháp thời báo. Ông

    [4]
    Phan trách thể thơ “bó buộc quá mà mất cả sanh thú” .
    Năm 1929, trên báo Phụ nữ tân văn Ô. Trịnh Đình Rư lại công kích nó
    một lần nữa và hô hào người ta lưu tâm đến lối lục bát và song thất lục bát,
    [5]
    là những lối thơ đặc biệt của ta .
    Thực ra, từ trước, trên sách vở báo chương thỉnh thoảng thất ngôn luật
    cũng đã phải nhường chỗ cho lục bát, song thất lục bát, cổ phong, từ
    khúc.v.v... Lác đác người ta còn thấy xuất hiện những bài không niêm,
    không luật, không hạn chữ, hạn câu. Ấy là bài dịch thơ ngụ ngôn La Cigale
    [6]
    et la Fourmi của Nguyễn Văn Vĩnh :
    Con ve sầu kêu ve ve suốt mùa hè
    Đến kỳ gió bấc thổi
    Nguồn cơn thật bối rối...
    [7]
    Ấy là những bài gọi là thơ buông của một sinh viên trường Cao đẳng.
    Ô. Lê Khánh Đồng, đã làm một trò cười cho chúng ta hồi nhỏ.
    Những bài như thế mà dám mạo danh là thơ, cứ thời bấy giờ thực đáng
    khép vào tội phạm thượng. Một sự biến cố dường ấy mà xảy ra được, dầu
    không được công nhận, cũng đủ chứng rằng cái thời vận luật Đường đã cực
    kỳ suy vi.
    Khuôn khổ bài thơ bắt đầu rạn nứt. Một sức mạnh đương ngấm ngầm
    hoạt động trong tâm linh nòi giống. Nói cho đúng, chúng ta cũng chỉ phỏng
    đoán chứ thực ra chưa thấy gì. Thi thể có ít nhiều thay đổi mà thi tứ vẫn như
    xưa. Chỉ trong đôi bài thơ của Tản Đà mới thấy phảng phất chút bâng
    khuâng, chút phóng túng của thời sau. Ngoài ra, người ta vẫn ca đi hát lại
    bấy nhiêu đề thơ bằng bấy nhiêu giọng thơ không di dịch. Cửa hé mở từ lâu
    nhưng ngọn gió xa đón hoài không thấy tới. Xã hội Việt Nam chưa đến tuần
    thành thục. Chưa có thể nhóm đậy một cuộc cách mệnh về thi ca.
    *
    * *
    Nhưng một ngày kia cuộc cách mệnh về thi ca đã nhóm dậy. Ngày ấy là
    [8]
    ngày 10 mars 1932 . Lần đầu tiên trong thành trì thơ cũ hiện ra một lỗ
    thủng. Ô. Phan Khôi hăng hái như một vị tướng quân, dõng dạc bước ra trận.

    Ông tự giới thiệu: “Trước kia... ít ra trong một năm tôi cùng có được năm
    bảy bài, hoặc bằng chữ Hán, hoặc bằng chữ Nôm; mà năm bảy bài của tôi,
    không phải nói phách, đều là năm bảy bài nghe được”. Ấy thế đó mà ông kết
    án thơ cũ! “Thơ cốt chơn. Thơ cũ bị câu thúc quá nên bị mất chơn”. Bởi vậy
    ông bày ra một lối thơ “đem ý thật có trong tâm khảm mình tả ra bằng những
    câu có vần mà không bó buộc bởi niêm luật gì hết” và tạm mệnh danh là thơ
    mới.
    Hồi bấy giờ Phụ nữ tân văn đương thời cực thịnh. Những lời nói của ông
    [9]
    Phan được truyền bá đi khắp nơi. Cái bài thơ mới “Tình già” ông dẫn ra
    làm thí dụ, không rõ có được ai thích không, nhưng một số đông thanh niên
    trong nước bỗng thấy mở ra một góc trời vì cái táo bạo giấu giếm của mình
    đã được một bực đàn anh trong văn giới công nhiên thừa nhận.
    Lần lượt những bài thơ mới, vốn làm từ trước, được đưa lên mặt báo.
    Người hưởng ứng thứ nhất là Ô. Lưu Trọng Lư. Sau khi đăng bài của Ô.
    Phan Khôi chẳng bao lâu, Phụ nữ tân văn nhận được một bức thư hoan
    nghênh ký cô Liên Hương (Faifo), một bài thơ mới “Trên đường đời” ký
    Lưu Trọng Lư và một bài nữa “Vắng khách thơ” ký Thanh Tâm. Ký nhiều
    tên cho rộn thế thôi chứ đi lại cũng chỉ một người. 'Tình già”, “Trên đường
    đời”, và “Vắng khách thơ” là ba bài mang tên thơ mới được đăng báo trước
    [10]
    nhất. Trong ba bài ấy thì bài thứ ba đã là một bài có giá trị
    . Kế đó, Phụ
    nữ tân văn còn đăng thơ mới của Nguyễn Thị Manh Manh (tức Nguyễn Thị
    Kiêm), của Hồ Văn Hảo và nhiều người nữa.
    Nhưng rồi phong trào thơ mới chuyển ra đất Bắc và được một cơ quan
    ngôn luận khác ủng hộ một cách đắc lực hơn.
    Báo Phong hóa tập mới ra đời ngày 22 Septembre 1932. Ngay số đầu đã
    có bài công kích thơ Đường luật và kết luận rằng: “Thơ ta phải mới, mới văn
    thể, mới ý tưởng”. Từ đó cho đến cuối năm 1932, Phong hóa không đăng thơ
    mới nhưng cũng không đăng thơ cũ. Phong hóa lại còn giễu thơ cũ bằng
    cách giễu Tản Đà, người đại biểu chính thức cho nền thơ cũ. Bài “Cảm thu
    tiễn thu” của Tản Đà đã làm đầu đề cho một bức tranh khôi hài của Đông
    Sơn và một bài hát nói khôi hài của Tú Mỡ. Họ so sánh cảnh thực với cảnh
    mộng trong trí tưởng thi nhân. Tú Mỡ viết:
    Cây tươi tốt, lá còn xanh ngắt,
    Bói đâu ra lác đác lá ngô vàng!

    Trên dường đi nóng dãy như rang,
    Cảnh tuyết phủ mơ màng thêm quái lạ!

    Phá hoại rồi họ kiến thiết. Nhận được của Ô. Lưu Trọng Lư bức thư gửi
    cho Ô. Phan Khôi mấy tháng trước, họ trịnh trọng đăng lại trên Phong hóa
    số Tết ra ngày 24 janvier 1933 cùng với ít bài thơ mới của Lưu Trọng Lư,
    Tân Việt, Thế Lữ. Tiếp theo đó, Phong hóa luôn luôn đăng thơ mới của Tứ
    Ly, Thế Lữ, Nhất Linh, Nguyễn Văn Kiện, Vũ Đình Liên, Đoàn Phú Tứ,
    Huy Thông.
    Các báo chí khác cũng đua nhau đăng thơ mới. Ở Huế, Ngân Sơn tùng thư
    ra đời ngày 15 Septembre 1933, liền xuất bản với ít truyện ngắn, một tập thơ
    [11]
    mới của Lưu Trọng Lư
    .
    Thơ mới đã bắt đầu có cơ sở. Trong làng thơ mới người ta càng sốt sắng
    thêm. Từ hai tháng trước, hôm 26 juillet 1933, một nữ sĩ có tài và có gan, cô
    Nguyễn Thị Kiêm, đã lên diễn đàn hội Khuyến học Sài Gòn hết sức tán
    dương thơ mới. Hội Khuyến học Sài Gòn thành lập đến bấy giờ đã 25 năm.
    Lần thứ nhất một bạn gái lên diễn đàn và cũng lần thứ nhất có một cuộc diễn
    thuyết được đông người nghe như thế.
    Nối gót cô Nguyễn Thị Kiêm, còn nhiều diễn giải cũng theo một mục
    đích: giành lấy phần thắng cho thơ mới:
    Juin 1934: Ô. Lưu Trọng Lư diễn thuyết tại nhà Học hội Quy Nhơn.
    Janvier 1935: Ô. Đỗ Đức Vượng diễn thuyết tại hội Trí tri Hà Nội.
    Janvier 1935: cô Nguyễn Thị Kiêm lại diễn thuyết tại hội Khuyến học Sài
    Gòn để tranh luận với Ô. Nguyễn Văn Hanh.
    Novembre 1935: Ô. Vũ Đình Liên diễn thuyết tại hội Trí tri Nam Định.
    Fébrier 1936: Ô. Trương Tửu diễn thuyết về thơ Bạch Nga tại hội Khai trí
    tiến đức Hà Nội.
    Trên báo chương cũng luôn luôn có những bài bênh vực, khích lệ thơ
    mới. Ô. Lưu Trọng Lư gửi hai bức thư lên Khê Thượng nói chuyện thơ mới
    [12]
    với Tản Đà
    . Ô. Lê Tràng Kiều viết tám bài ca tụng các nhà thơ mới để
    [13]
    trả lời Ô. Tùng Lâm và Ô. Thái Phi
    . Ngoài ra còn bao nhiêu bài nữa.

    Ở cái xứ vô sự này, câu chuyện câu thơ cơ hồ là câu chuyện độc nhất của
    một số đông thanh niên nam nữ. Nhưng đã đến lúc những lời hùng biện trở
    nên vô dụng. Những thi sĩ có danh đã ra đời: Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy
    Thông, Nguyễn Nhược Pháp, J.Leiba, Thái Can. Trong khoảng bốn năm, đã
    sản xuất rất nhiều bài thơ có giá trị. Và những bài thơ ấy, nhất là những bài
    của Thế Lữ, không trống không kèn đã bênh vực một cách vững vàng cho
    thơ mới.
    1935, cái năm đại náo trong làng thơ, đi qua. Bước sang 1936 sự toàn
    thắng của thơ mới đã rõ rệt. Đề tựa tập Những áng thơ hay, Ô. Lê Tràng
    Kiều bàn nên xóa bỏ hai chữ thơ mới. Vì “hai chữ thơ mới là biểu hiện một
    cuộc cách mệnh đương bồng bột” mà “cuộc cách mệnh về thi ca ngày nay đã
    yên lặng như mặt nước hồ thu”. Ô. Lưu Trọng Lư nở một nụ cười kiêu hãnh,
    đăng trên Hanoi báo (19-2-1936) một bài thơ thất ngôn sách họa kết bằng
    hai câu:
    Nắn nót miền sao nên bốn vế,
    Chẳng thơ thì cũng cóc cần thơ.
    Cái cười khinh mạn của người chiến thắng kể không có gì đáng ưa. Thế
    Lữ, khôn hơn, chỉ lẳng lặng nói chuyện với người đồng hương - những
    người trong làng thơ mới. Từ mục “Lá thắm” của Tinh hoa đến mục “Tin
    thơ” của Ngày nay, từ mai 1937 đến octobre 1938, Thế Lữ chăm chú dạy
    nghề thơ cho những ai nuôi giấc mộng một ngày kia trở nên thi sĩ.
    Thơ mới ra đời ngày một nhiều, cái danh hiệu thơ mới mất dần trên sách
    báo. Thi đàn đã vắng tiếng cãi nhau. Cho đến hồi juin năm nay, vì chuyện
    [14]
    thơ mới, Ô. Huỳnh Thúc Kháng và Ô. Phan Khôi bắt bẻ lẫn nhau
    , làng
    thơ Việt Nam không mấy ai để ý đến những lời qua tiếng lại giữa hai ông già
    ấy.
    Tấn kịch mới cũ trong phạm vi thi ca đã kết liễu. Thơ mới đã giành được
    quyền sống. Nó chiếm hầu hết báo chí sách vở, đã len vào đến học
    [15]
    đường
    . Mà đã vào học đường, nhất là ở nước ta, tức là thanh thế đã to
    lắm.
    *
    * *
    Trước sự bành trướng mãnh liệt của thơ mới, trước mọi sự hô hào rầm rộ
    của những người trong phái mới, làng thơ cũ đã phản ứng như thế nào?

    Août 1933: Một tuần sau cuộc diễn thuyết thứ nhất của cô Nguyễn Thị
    [16]
    Kiêm, Ô. Tân Việt, bình bút báo Công luận
    bênh vực thơ cũ tại diễn đàn
    hội Khuyến học Sài Gòn.
    Octobre 1933: Văn học tạp chí, Hà Nội, chê các nhà thơ mới không biết
    cân nhắc chữ dùng.
    Novembre - décembre 1934: Tản Đà nói chuyện thơ mới, thơ cũ trên Tiểu
    thuyết thứ bảy.
    Décembre 1934: Trên Văn học tạp chí Ô. Hoàng Duy Từ phản đối bài
    diễn thuyết của Ô. Lưu Trọng Lư tại nhà Học hội Quy Nhơn.
    9 janvier 1935: Ô. Nguyễn Văn Hanh diễn thuyết tại hội Khuyến học Sài
    Gòn.
    16 janvier 1935: Ô. Nguyễn Văn Hanh lại diễn thuyết tại hội Khuyến học
    Sài Gòn cùng một hôm với cô Nguyễn Thị Kiêm (diễn thuyết tranh luận).
    Avril 1935: Hai Ô. Tường Vân và Phi Vân xuất bản tập thơ cũ Những
    bông hoa trái mùa ở Vinh.
    Juin 1935: Ô. Tùng Lâm Lê Cương phụng công kích thơ mới trên Văn
    học tuần san, Sài Gòn.
    Avril 1936: Ô. Thái Phi công kích thơ mới trên báo Tin văn, Hà Nội.
    Août 1937: Ô. Nguyễn Văn Hanh diễn thuyết ở hội Quảng tri Huế.
    Juin 1941: Ô. Huỳnh Thúc Kháng, sau nhiều lần chỉ trích và mạt sát, nói
    cả quyết rằng thơ mới đã đến ngày mạt vận.
    *
    * *
    Cũng rộn đấy chứ! Cái cảnh thơ cũ lúc tàn không đến nỗi buồn tẻ, thảm
    hại như cái cảnh suy vi của nền Khổng học. Năm 1930, Ô. Phan Khôi viết
    trên báo Thần chung ở Sài Gòn một thôi hai mươi mốt bài chỉ trích Khổng
    giáo. Thế mà những môn đồ đạo Khổng còn sống sót nguội lạnh như không.
    [17]
    Tinh thần Khổng giáo ở nước ta đã bạc nhược lắm vậy. Tinh thần thơ cũ
    có phần tráng kiện hơn. Gặp cơn nguy biến, còn có người ra tay chống chọi.
    Nhưng rồi cũng không sao cứu vãn được tình thế. Chỉ có một người hoặc có
    thể làm nên chuyện. Người ấy là Tản Đà một nhà thơ có tài. Nhưng đối với
    phong trào thơ mới, Tản Đà lại hết sức dè dặt. Một người nữa, Ô. Hoàng

    Duy Từ, trên Văn học tạp chí, cũng có nhiều câu có lý, nhưng ông lại chủ
    trương cái thuyết của A. Chénier: tứ mới lời xưa. Và như thế ý kiến ông
    giống hệt nhiều nhà thơ mới.
    Còn các người khác họ lập luận đại khái bất ngoại mấy lối này:
    Hoặc họ cho những nhà thơ mới là một bọn mù:
    Chẳng khác anh mù lại nói mơ
    [18]
    Chẳng qua một bọn dốt làm thơ
    Ý họ nghĩ rằng người ta làm thơ mới là chỉ vì luật thơ Đường khó. Nhưng
    từ août 1933, thuật lại cuộc diễn thuyết của Ô. Tân Việt, Phụ nữ tân văn đã
    trả lời trước họ: “Thơ tám câu cũng không phải khó gì. Nhiều người chỉ học
    trong nửa tiếng đồng hồ là thuộc và có thể làm đúng niêm luật. Các báo hàng
    ngày vẫn đăng luôn bao nhiêu là thơ bát cú của nhiều thí sĩ chỉ học trong có
    mấy ngày là “thành tài”... Chúng tôi dám quả quyết như vậy là vì từ khi có
    báo quốc ngữ đến nay, đã vài mươi năm, ở mục văn uyển các báo, thơ tám
    câu, bốn câu mọc ra không phải như hoa lan, hoa huệ, hoa hồng, mà như
    [19]
    nấm”
    .
    Hoặc họ dẫn ra ít bài thơ mới lủng củng lủng ca để công kích cho tiện rồi
    kết luận theo lối cái nhà thơ cũ nào đó đã gửi cho Ô. Lam Giang một bài bát
    cú chê thơ mới:
    Nghĩa lý vơ vơ rồi vẩn vẩn
    Thanh âm ngẩn ngẩn lại ngơ ngơ
    So với Á học như dưa đắng
    [20]
    Sánh với Âu văn tựa mít xơ...
    Họ quên rằng chính những nhà thơ mới đã công kích thơ mới tàn nhẫn
    nghĩa là công kíc...
     
    Gửi ý kiến

    KÍNH CHÀO QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ GHÉ TƯỜNG WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS NGÔ MÂY!

    Những quyển sách làm say mê ta đến tận tủy, chúng nói chuyện với ta, cho ta những lời khuyên và liên kết với ta bởi một tình thân thật sống động và nhịp nhàng.