Ý nghĩa của sách trong cuộc sống
Tây du ký - Ngô Thừa Ân

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Thẩm
Ngày gửi: 18h:00' 11-03-2024
Dung lượng: 5.5 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Lê Thị Thẩm
Ngày gửi: 18h:00' 11-03-2024
Dung lượng: 5.5 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Mục lục
LỜI NÓI ĐẦU
TÀI LIỆU CỦA BỘ BIÊN TẬP NHÀ XB NHÂN DÂN VĂN HỌC
BẮC KINH BÀN VỀ TÂY DU KÝ
I. ĐỜI SỐNG TƯ TƯỞNG CỦA NGÔ THỪA ÂN VÀ
NGUỒN GỐC “TÂY DU KÝ”
II. Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG CỦA “TÂY DU KÝ”
III. THÀNH CÔNG VỀ NGHỆ THUẬT CỦA – “TÂY DU
KÝ”
HỒI THỨ NHẤT
HỒI THỨ HAI
HỒI THỨ BA
HỒI THỨ BỐN
HỒI THỨ NĂM
HỒI THỨ SÁU
HỒI THỨ BẢY
HỒI THỨ TÁM
HỒI THỨ CHÍN
HỒI THỨ MƯỜI
HỒI THỨ MƯỜI MỘT
HỒI THỨ MƯỜI HAI
HỒI THỨ MƯỜI BA
HỒI THỨ MƯỜI BỐN
HỒI THỨ MƯỜI LĂM
HỒI THỨ MƯỜI SÁU
HỒI THỨ MƯỜI BẢY
HỒI THỨ MƯỜI TÁM
HỒI THỨ MƯỜI CHÍN
HỒI THỨ HAI MƯƠI
HỒI THỨ HAI MƯƠI MỐT
HỒI THỨ HAI MƯƠI HAI
HỒI THỨ HAI MƯƠI BA
HỒI THỨ HAI MƯƠI BỐN
HỒI THỨ HAI MƯƠI LĂM
HỒI THỨ HAI MƯƠI SÁU
HỒI THỨ HAI MƯƠI BẢY
HỒI THỨ HAI MƯƠI TÁM
HỒI THỨ HAI MƯƠI CHÍN
HỒI THỨ BA MƯƠI
HỒI THỨ BA MƯƠI MỐT
HỒI THỨ BA MƯƠI HAI
HỒI THỨ BA MƯƠI BA
HỒI THỨ BA MƯƠI TƯ
HỒI THỨ BA MƯƠI LĂM
HỒI THỨ BA MƯƠI SÁU
HỒI THỨ BA MƯƠI BẢY
HỒI THỨ BA MƯƠI TÁM
HỒI THỨ BA MƯƠI CHÍN
HỒI THỨ BỐN MƯƠI
HỒI THỨ BỐN MƯƠI MỐT
HỒI THỨ BỐN MƯƠI HAI
HỒI THỨ BỐN MƯƠI BA
HỒI THỨ BỐN MƯƠI TƯ
HỒI THỨ BỐN MƯƠI LĂM
HỒI THỨ BỐN MƯƠI SÁU
HỒI THỨ BỐN MƯƠI BẢY
HỒI THỨ BỐN MƯƠI TÁM
HỒI THỨ BỐN MƯƠI CHÍN
HỒI THỨ NĂM MƯƠI
HỒI THỨ NĂM MƯƠI MỐT
HỒI THỨ NĂM MƯƠI HAI
HỒI THỨ NĂM MƯƠI BA
HỒI THỨ NĂM MƯƠI TƯ
HỒI THỨ NĂM MƯƠI LĂM
HỒI THỨ NĂM MƯƠI SÁU
HỒI THỨ NĂM MƯƠI BẢY
HỒI THỨ NĂM MƯƠI TÁM
HỒI THỨ NĂM MƯƠI CHÍN
HỒI THỨ SÁU MƯƠI
HỒI THỨ SÁU MƯƠI MỐT
HỒI THỨ SÁU MƯƠI HAI
HỒI THỨ SÁU MƯƠI BA
HỒI THỨ SÁU MƯƠI TƯ
HỒI THỨ SÁU MƯƠI LĂM
HỒI THỨ SÁU MƯƠI SÁU
HỒI THỨ SÁU MƯƠI BẢY
HỒI THỨ SÁU MƯƠI TÁM
HỒI THỨ SÁU MƯƠI CHÍN
HỒI THỨ BẢY MƯƠI
HỒI THỨ BẢY MƯƠI MỐT
HỒI THỨ BẢY MƯƠI HAI
HỒI THỨ BẢY MƯƠI BA
HỒI THỨ BẢY MƯƠI TƯ
HỒI THỨ BẢY MƯƠI LĂM
HỒI THỨ BẢY MƯƠI SÁU
HỒI THỨ BẢY MƯƠI BẢY
HỒI THỨ BẢY MƯƠI TÁM
HỒI THỨ BẢY MƯƠI CHÍN
HỒI THỨ TÁM MƯƠI
HỒI THỨ TÁM MƯƠI MỐT
HỒI THỨ TÁM MƯƠI HAI
HỒI THỨ TÁM MƯƠI BA
HỒI THỨ TÁM MƯƠI TƯ
HỒI THỨ TÁM MƯƠI LĂM
HỒI THỨ TÁM MƯƠI SÁU
HỒI THỨ TÁM MƯƠI BẢY
HỒI THỨ TÁM MƯƠI TÁM
HỒI THỨ TÁM MƯƠI CHÍN
HỒI THỨ CHÍN MƯƠI
HỒI THỨ CHÍN MƯƠI MỐT
HỒI THỨ CHÍN MƯƠI HAI
HỒI THỨ CHÍN MƯƠI BA
HỒI THỨ CHÍN MƯƠI TƯ
HỒI THỨ CHÍN MƯƠI LĂM
HỒI THỨ CHÍN MƯƠI SÁU
HỒI THỨ CHÍN MƯƠI BẢY
HỒI THỨ CHÍN MƯƠI TÁM
HỒI THỨ CHÍN MƯƠI CHÍN
HỒI THỨ MỘT TRĂM
LỜI NÓI ĐẦU
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
“Tây Du Ký”, tiểu thuyết của Ngô Thừa Ân, một pho tiểu thuyết kiệt xuất
trong văn học Trung Quốc, dài một trăm hồi, chia làm 3 tập.
Bộ tiểu thuyết này dịch theo bản chữ Trung Quốc do “Tác giả xuất bản xã
Bắc Kinh” ấn hành năm 1957. Những tài liệu bàn về chủ đề và nhân vật Tây
Du Ký, nhận định về giá trị bộ tiểu thuyết này của các nhà văn và nhà phê
bình Trung Quốc do Bộ Biên tập Nhà xuất bản Nhân dân văn học Bắc Kinh
ấn hành.
Với bản dịch này, trong tình hình hiện tại, chúng tôi cũng chỉ dám coi là
một tài liệu công phu để giúp hạn đọc tham khảo, bởi vì theo chúng tôi nó
vẫn còn nhiều chỗ cần bàn.
Tranh bìa và tranh minh họa, chúng tôi chụp lại trong những tập sách
tranh vẽ truyện Tây Du của Nhà xuất bản “Nhân dân Mỹ thuật Thượng Hải”
ấn hành năm 1956.
Trong quá trình tuyển chọn một bản dịch thật hoàn hảo, lần in này chúng
tôi xin giới thiệu bản dịch của Thụy Đình do nhà nghiên cứu Chu Thiên hiệu
đính.
Chúng tôi rất mong được sự đóng góp của bạn đọc.
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
TÀI LIỆU CỦA BỘ BIÊN TẬP NHÀ XB NHÂN DÂN
VĂN HỌC BẮC KINH BÀN VỀ TÂY DU KÝ
I. ĐỜI SỐNG TƯ TƯỞNG CỦA NGÔ THỪA ÂN VÀ
NGUỒN GỐC “TÂY DU KÝ”
“Tây Du Ký” là một bộ tiểu thuyết thần thoại trường thiên, lãng mạn tích
cực rất vĩ đại. Quá trình ra đời của bộ truyện này cũng giống như “Tam quốc
diền nghĩa” và “Thủy Hử”: gốc gác của truyện đã lưu truyền lâu dài trong
dân gian từ trước; sau đó một hoặc vài tác gia dựa trên cơ sở sáng tác tập thế
của nhân dân; lại sáng tạo thêm thành sách.
Song căn cứ vào tài liệu hiện có mà xét thì truyện “Tam Quốc diễn nghĩa”
và “Thủy Hử”, trước khi thành sách đã có đầy đủ về qui mô kết cấu trên đại
thể. Còn “Tây Du Ký” thành được sách chủ yếu là do tác giả Ngô Thừa Ân
sáng tạo ra: “Tây Du Ký” được đúc kết bởi sự lao động sáng tạo lớn lao của
tác giả.
Ngô Thừa Ân (1500 (?) tên tự là Nhũ Trung, tên hiệu là Xa Dương sơn
nhân, là người ở huyện Sơn Âm, phủ Hoài An (nay là huyện Hoài An, tỉnh
Giang Tô). Ông sinh trong một gia đình quan lại cấp dưới lưu lạc sa sút
thành tiểu thương. Cha tên là Ngô Nhuệ, một tiểu thương bán “chỉ màu vải
hoa”, rốt ham đọc sách, “từ lục kinh đến bách gia chư tử không sách nào là
không xem” (Ngô Thừa Ân: “Bài minh của mộ chí Tiên phú quân”). Ngô
Thừa Ân từ lúc thiếu niên, văn chương đã nổi tiếng nhất làng. Trong bài “Xạ
Dương tiên sinh tồn cáo bạt” của Ngô Quốc Vinh có nói: “Xạ Dương tiên
sinh khi còn để trái đào, văn chương đã có tiếng đồn ở vùng sông Hoài.
Những người đến thăm, đến chơi, xin bài, hỏi chữ, luôn luôn không ngớt”…
Sách Hoài An phú chi của Thiên Khải có nói về ông: “Ông tinh lanh lẹ,
thông minh, xem rộng hết các sách; khi làm văn thơ, hạ bút là thành bài;
thanh nhã tươi đẹp, có phong cách như Tân Thiếu Du. Ông lại giỏi hài kịch,
viết được một số vở nổi tiếng một thời”. Nhưng ở cái thời đại kén người
bằng lối văn bát cổ, một người trí thức có tài năng như thế, đành “lận đận
mãi nơi trường ốc”, mãi đến năm 45 tuổi, ông mới thi đậu được chức tuế
cống sinh. Ông đã lên kinh dự tuyển, vì thân phận là người khách lạ Bắc
Kinh nên đã nếm đủ mùi lạnh nhạt của phố phường. Sau bởi mẹ già nhà khổ,
ông miễn cưỡng phải ra nhận chức thừa ở huyện Trường Hưng. Nhận chức
được một hai năm, ông “thẹn nỗi khom lưng, rũ áo ra về”. Sau ông lại đến
Kim Lăng (Nam Kinh) tìm việc, nhưng vẫn không thi thố được gì. Lúc già,
ông quay về làng rượu, thơ vui thú, làm công việc sáng tác văn học. Ông ở
nhà được hơn mười năm thì qua đời. Tiểu thuyết “Tây Du Ký” áng chừng
viết lúc tuổi già, thời kỳ ông ở quê nhà. Sáng tác của Ngô Thừa Ân rất nhiều,
nhưng vì nhà nghèo, lại không có con nối dòng, nên một bộ phận lớn sáng
tác của ông đều bị mất mát cả. Tác phẩm hiện còn, trừ “Tây Du Ký” ra, còn
có bốn quyển “Xạ dương tiên sinh tồn cáo” do người sau góp nhặt lại được.
Ngô Thừa Ân xuất thân ở một gia đình sĩ hoạn sa sút, lưu lạc thành tiểu
thương. Tiểu thương hồi đó không có địa vị xã hội. Ông đã ghi thuật trong
bài minh của mộ chí Tiên phủ quân về tình cảnh nhà ông luôn bị quan lại
dọa nạt. Do bị tư tưởng phong kiến trói buộc, tuy ông đã hết sức viết về phụ
thân mình cho thành người dân lành an phận trong xã hội đương thời, nhưng
cũng không che đậy nổi sự tức giận đối với hiện thực đen tối, Phụ thân ông
“thích bàn chuyện thời thế, hễ điều gì bất bình thì vỗ ghế tức giận, thái độ
hằm hằm”, đó chính là phản ánh người tiểu thương lúc ấy, bị giai cấp phong
kiến thống trị đè nén về mặt chính trị và mặt kinh tế.
Tư tưởng của Ngô Thừa Ân trên cơ bản vẫn là tư tưởng nhà nho truyền
thống, chủ trương làm điều vương đạo, hết lẽ vua tôi, cái xã hội mà ông
mộng tưởng là cái xã hội Tam đại, lưỡng Hán đã lý tưởng hóa. Bài phú
“Minh Đường” của ông là một bài ca tụng giai cấp thống trị phong kiến, còn
thì khá nhiều thơ ca, nhất là văn xuôi của ông, cũng đều có ý thức phong
kiến khá đậm. Nhưng cũng bởi địa vị xã hội của người tiểu thương, bởi
đường khoa cử lận đận, nên cái hố ngăn cách giữa ông và bọn thống trị
phong kiến ngày càng to. Nhờ kinh nghiệm thiết thân nên ông càng ngày
càng nhận rõ hơn cái hiện thực đen tối của xã hội hồi đó. Qua một số thơ của
ông có thể thấy được tính cách của ông là sốt sắng yêu tự do, hào phóng,
không câu thúc. Ở dưới sự thống trị phong kiến đen tối và nghiệt ngã của
triều Minh, ông căm ghét chủ nghĩa chuyên chế. Ở dưới sự chỉ đạo của tư
tưởng nho gia truyền thống, ông có hoài bão về chính trị, hy vọng làm nên sự
nghiệp một phen; nhưng trước cái hiện tượng xã hội “hàng ngũ ngày thưa,
thuế dịch ngày nặng, cơ giới ngày nhiều, thói quen gian trá ngày càng đua
nhau” (bài tự tặng Vệ Hầu Chương Quân đi nhậm) khiến ông không thể
không thốt ra lời cảm thán “phong tục lâu nay ta không nỡ nói rõ!” (bài tự
tiễn Quận bá là Thiệu Cố Ngu được bổ đi làm hiến phó tỉnh Sơn Đông). Từ
đấy sự bất mãn mạnh mẽ đối với hiện thực càng làm mạnh thêm chí lớn giúp
thời sửa thế của ông. Trong bài ca ở tranh “Nhị Lang tìm núi”, ông đã nói:
“... Binh thần săn tà và săn muông thú; dò tận hang, phá cả tổ, không còn sót
một con nào. Uy thế lúc bình sinh nay ở đâu? Nanh vuốt tuy còn, dám rong
ruổi nhung nhăng chăng!... Người ở nơi đồng nội có hoài bão, cảm kích
nhiều, thấy việc, ở trước gió thở dài ba cái. Ở trong bụng đã mài mòn đao
chém tà, muốn vùng dậy, nhưng giận rằng không có sức. Cứu mặt trăng có
tên, cứu mặt trời có cung, ở thế gian há bảo không có kẻ anh hùng? Ai hay
đưa lại cho ta những người tài hiếm như con lân, con phượng để khiến cho
mãi mãi muốn nắm giữ được cái công trừ giặc yên dân...”.
Ông đem thế lực hung ác, tàn hại nhân dân ở trong xã hội ví với các quỉ
quái Lị, Mị, Võng, Lượng; nêu rõ giai cấp thống trị là nguồn gốc tai nạn của
nhân dân. Ông muốn dùng “đao chém tà” để tiêu diệt những bọn hề ấy,
nhưng “muốn vùng dậy dẹp chúng mà giận rằng không có sức”. Lý tưởng
không thực hiện được, thế là nỗi căm giận hiện thực đen tối, cái nhiệt tình
giúp thời sửa thế, trừ bạo an dân của ông liền phát sinh và thể hiện rõ trong
“Tây Du Ký”.
Ngô Thừa Ân lúc còn bé, thích những chuyện thần thoại. Lúc đứng tuổi,
ông đã căn cứ vào truyện thần thoại dân gian viết một bộ tiểu thuyết ma quái
tên là “Vũ Đình Chí”. Tiếc rằng bộ ấy thất truyền, chỉ còn bài tựa. Trong bài
tựa nói: “Ta lúc bé đã thích chuyện lạ. Lúc ở trường xã, học trẻ con, thường
mua trộm những truyện vặt, dã sử, nhưng sợ cha và thầy mắng, phải tìm chỗ
kín để đọc. Khi lớn lên, thích càng nhiều, nghe càng lạ. Đến lúc đã ba mươi
tuổi, tìm tòi mua kiếm các sách, truyện, cơ hồ chứa đầy trong bụng... Tuy
sách của ta tên là sách ma quái, nhưng không chuyên nói về ma quỷ, thỉnh
thoảng cũng chép những biến dị ở nhân gian là có ý khuyên răn ngụ ở trong
ấy...”
Ngô Thừa Ân không những thuộc nhiều chuyện thần thoại, dùng đề tài
thần thoại viết ra được thành công, mà còn định rõ được ý muốn của sáng
tác, hy vọng thông qua tác phẩm để đạt mục đích giáo dục xã hội, chứ không
phải chỉ là viết để viết.
Có khuynh hướng tư tưởng tiến bộ, lại giỏi vận dụng đề tài phong phú
của truyền thuyết thần thoại nên Ngô Thừa Ân sáng tạo ra được “Tây Du
Ký”, pho tiểu thuyết thần thoại trường thiên, lãng mạn tích cực vĩ đại như
thế.
Nhưng “Tây Du Ký” lại không phải do riêng cá nhân Ngô Thừa Ân sáng
tác ra. Gốc gác câu truyện đã lưu truyền rộng rãi ở dân gian và không ngừng
diễn biến, đã từ lâu trước khi có Ngô Thừa Ân.
Muốn khảo sát nguồn gốc “Tây Du Ký”, phải ngược lại những năm đầu
nhà Đường. Năm thứ 2 niên hiệu Trinh Quán (628), có một vị sư thanh niên
là Huyền Trang không sợ gian nan hiểm trở, một mình sang Thiên Trúc (Ấn
Độ) lấy kinh. Ông đi lâu đến 17 năm, qua hơn năm mươi nước, trải hết trăm
cay nghìn đắng, chín phần chết một phần sống, cuối cùng mang về được 657
bộ kinh. Lúc bấy giờ, giao thông chua phát đạt, giữa nước này với nước kia
sự giao thiệp không thân mật thì Huyền Trang sang Thiên Trúc thật là một
việc kinh người.
Việc từng trải trên đường dài, việc sinh sống ở nước khác trong hơn 10
năm của ông không những làm cho mọi người thán phục, mà còn đem lại
cho mọi người một nguồn tưởng tượng phong phú. Thêm vào đấy, tín đồ đạo
Phật muốn mở rộng ảnh hưởng dạo mình, nên cố ý tô vẽ thêm vào câu
chuyện Huyền Trang đi lấy kinh, cho nên chuyện Huyền Trang đi lấy kinh,
bắt đầu từ lúc học trò ông là Tuệ Lập viết ra quyển truyện ký “Đại Đường Từ
Ân tự Tam Tạng pháp sư truyện” liền có đủ màu sắc thần bí của tôn giáo.
Những truyện ấy được thần kỳ hóa lại chính là bắt đầu từ sau khi nó được
lưu hành ở trong dân gian. Được lưu hành trong dân gian nó thành sở hữu
của nhân dân. Nhân dân lao động xuất phát từ hứng thú nghệ thuật của bản
thân mình, lại dựa vào nguyện vọng của mình, đã làm cho câu chuyện phát
triển phong phú thêm lên. Câu chuyện dần dần tách khỏi lịch sử Huyền
Trang đi lấy kinh để mỗi ngày một diễn biến kỳ lạ...
... Chuyện Đường Tăng đi lấy kinh, trong quá trình lưu truyền mấy trăm
năm, đã dần dần được thêm thắt phong phú lên. Đến tay Ngô Thừa Ân, trải
qua những sự lấy bỏ, thêm bớt, sáng tạo, mới thành ra một tác phẩm nghệ
thuật vĩ đại như thế.
Sự sáng tạo lớn lao của Ngô Thừa Ân, chủ yếu biểu hiện ở ba mặt dưới
đây:
1. Cứ theo sự kết cấu và tình tiết truyện mà xét, tác giả đem mấy truyện
đã có sẵn, nối liền chúng lại với nhau một cách khéo léo rồi tô điểm, mở
rộng, sửa đổi và gán vào trong sáng tác của mình, khiến chúng xoay quanh
chủ đề, trở nên một khối hoàn chỉnh. Nhờ ở sự ham thích thần thoại và óc
tưởng tượng của mình, ông còn sáng tạo ra một số truyện khác dung hợp với
chuyện có sẵn trong dân gian.
2. Xét trên mặt tư tưởng chủ đề, ông đã cải tạo và nâng cao câu chuyện đi
lấy kinh vẫn lưu truyền trong dân gian, bồi bổ cho nó một ý nghĩa mới, khiến
cho nó có một chủ đề rõ ràng và một tính khuynh hướng mạnh mẽ. Tác giả
lại căn cứ vào sự quan sát và sự nhận xét của mình đối với hiện thực, mà tiến
hành phê phán xã hội một cách sâu rộng.
3. Xét về mặt xây dựng hình tượng nghệ thuật, nhân vật trong truyện đi
lấy kinh trước kia phần lớn chỉ là thô sơ, không có cá tính rõ rệt. Mà điều
đáng chú ý là qua bản thân các nhân vật đó, ta không thấy khái quát được
phần nào bản chất của lực lượng xã hội. Trải qua sự sáng tạo thiên tài của
Ngô Thừa Ân, hình tượng sáng ngời, bất hủ của Tôn Ngộ Không mới được
gọt rũa nên. Tôn Ngộ Không giữ một địa vị rất chủ yếu trong “Tây Du Ký”;
ở Tôn không những có đủ cá tính rõ rệt, mà còn khái quát sâu sắc được nội
dung xã hội. Nhờ đó mà “Tây Du Ký” đã hoàn thành được sự thay đổi về
chất, đã từ một bộ truyện của các tín đồ tôn giáo trở thành một tác phẩm
dùng đề tài thần thoại viết thành truyền kỳ của nhân dân anh hùng.
Có thể nói như thể này: không có truyện đi lấy kinh của dân gian, thì
không thể có “Tây Du Ký” của Ngô Thừa Ân; không có sáng tạo gia công
thiên tài của Ngô Thừa Ân thì “Tây Du Ký” cũng không thể hoàn chỉnh
được như thế, không thể đạt được đích cao về tư tưởng và nghệ thuật như
thế.
II. Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG CỦA “TÂY DU KÝ”
“Tây Du Ký” là một bộ tiểu thuyết thần thoại trường thiên vĩ đại. Truyện
rạng rỡ chủ yếu trên hình tượng nghệ thuật Tôn Ngộ Không. Tôn Ngộ
Không là hình tượng anh hùng lý tưởng rất giàu màu sắc thần kỳ, tỏa sáng ra
bốn phía trong phòng tranh văn học cố điển nước ta.
Tôn Ngộ Không là đứa trẻ của tự nhiên, đứa trẻ từ một khối đá tiên sinh
đẻ ra. Nó nhờ ở dũng cảm và trí tuệ của mình mà làm chúa đàn khỉ ở động
Thủy Liêm, núi Hoa Quả. Tác giả tả động Thủy Liêm, núi Hoa Quả được
mười phần tươi đẹp như là một lạc viên lý tưởng. Một bầy khỉ ở trong
khoảng trời đất, tự do tự tại, “không chịu kỳ lân trông coi, không chịu
phượng hoàng cai quản, cũng không chịu vua ở nhân gian ràng buộc”.
Nhưng Tôn Ngộ Không lại phải chịu sự quản thúc của vua Diêm Vương; vận
mệnh của Tôn lại không phải do chính Tôn nắm lấy được. Đối với một việc
không thể nào chịu được ấy, Tôn Ngộ Không bèn rèn luyện tài nghệ của
mình, náo động long cung, lấy của Đông Hải long vương cái gậy gọi là “gậy
như ý bịt vàng trấn đáy sông trời” nặng 13.500 cân, múa gậy đánh xuống âm
phủ “làm cho quỷ đầu trâu kia sợ phải trốn đông trốn tây, quỷ mặt ngựa kia
sợ phải chạy nam chạy bắc”. Ngay cả vua Diêm Vương cũng sợ phải phải
lên tiếng xin thượng tiên cho biết tên!”, phải đem số sinh tử ra để Tôn Ngộ
Không xóa bỏ tên tuổi loài khỉ ở trong ấy. Rõ là Tôn Ngộ Không phản kháng
bất cứ sự áp bách nào, Tôn khiêu chiến một cách táo bạo với số mệnh! Tôn
Ngộ Không náo động long cung, khuấy rối âm phủ, Long Vương, Diêm
Vương không làm gì được, đành phải kêu với chúa tể của họ là Ngọc Hoàng,
kẻ thống trị cao nhất của thế giới thần. Kẻ thống trị ở thiên đình ấy cũng lại
chẳng cao minh gì hơn Long Vương và Diêm Vương, nhưng biết không thể
đối phó được với Tôn, bèn bày ra kế đánh lừa Tôn Ngộ Không lên trời. Tôn
Ngộ Không lên đến thiên đình, với thái độ một người thắng thế, vào yết kiến
Ngọc Hoàng; Thái Bạch kim tinh hướng vào Ngọc Hoàng lạy, Tôn Ngộ
Không cứ thẳng người đứng ở cạnh. Đến lúc Ngọc Hoàng hỏi: “Ai là tiên
yêu quái?” Tôn Ngộ Không chỉ cúi mình trả lời một tiếng là: “Chính lão Tôn
đây!”. Thái độ ngang tàng của Tôn ở trước mặt Ngọc Hoàng trong thế giới
thần thoại, đã phản ánh một cách khái quát sự khinh miệt của nhân dân lao
động đối với sự quyền quí và chế độ đẳng cấp trong xã hội phong kiến, phản
ánh yêu cầu và nguyện vọng của họ: dân chủ, bình đẳng. Khi Tôn Ngộ
Không biết rằng việc mình được phong làm “Bật mã ôn” chi là một việc lừa
dối, Tôn bèn bừng bừng lửa giận, đánh ra cửa Nam Thiên. Thiên đình điều
binh khiển tướng đến đánh, kết quả bị Tôn Ngộ Không đánh cho tơi bời, tán
loạn như hoa trôi nước chảy. Từ đấy Tôn Ngộ Không lặng lẽ, dứt khoát dựng
cờ hiệu, tự xưng là “Tề Thiên Đại Thánh”, chống lại với thiên đình. “Trời” là
vương quốc của thần, là tượng trưng của thế lực thống trị cao nhất; Tôn Ngộ
Không lại dựng lên hiệu cờ “Tề Thiên Đại Thánh” việc ấy chứng tỏ rõ ràng
là Tôn tự coi mình ngang với trời, quyết không chịu sự cai quản của thế lực
thống trị trên “nước trời”. Tinh thần phản kháng của Tôn Ngộ Không lúc bấy
giờ so với lúc náo long cung; náo âm phủ lại tiến lên một bước nữa, là dám
chọi lại với thiên đình. Kẻ thống trị ở trên trời sợ uy lực lớn lao của Tôn Ngộ
Không, không thể không thừa nhận Tôn là “Tề Thiên Đại Thánh” được. Ấy
là lần thứ hai trời lừa Tôn Ngộ Không lên thiên quốc. Tôn Ngộ Không ở trên
thiên cung, vẫn hiềm vì bị người quản thúc, cuộc sống không được tự do,
cho nên giả ngây giả dại. Không lâu, Tôn lại náo động ngay thiên cung một
mẻ rối tùng phèng nữa sau đó lại ra khỏi cửa trời. Thiên đình tốn hết sức lực
mới bắt được Tôn, nhưng không có cách nào giết nổi Tôn. Tôn bị bỏ vào
trong lò Bát quái của Thái Thượng lão quân đang luyện thuốc. Lò ấy luyện
được bảy bảy bốn mươi chín ngày; nhân lúc Lão quân mở lò để lấy thuốc,
Tôn liền nhảy vọt ra, trèo lên trên lò Bát Quái. Lão quân đến bên toan tóm
bất, bị Tôn xô ngã lộn nhào. Lập tức rút ở trong lỗ tai ra cây gậy như ý, vung
trước gió, thành cây gậy tròn xoe to bằng cái chén, cứ thế nắm ở trong tay,
bất biết hay dở, lại đại náo cung trời, đánh cho chín diệu tinh phải đóng chặt
cửa cổng, bốn thiên vương không còn bóng dáng nữa”. Ghế ngọc của Ngọc
Hoàng trước mắt cũng lung lay không yên. May sao có Như Lai đến cứu.
Tôn Ngộ Không bèn nói trắng ra với Như Lai rằng: “Kẻ mạnh là cao quý,
phải nhường cho ta: anh hùng chỉ thế đấy ai dám tranh hơn!”. Và lại nói:
“Người ta thường bảo: ngôi hoàng đế luân lưu, sang năm đến lượt ta! Chỉ
cần bảo với hắn (chỉ Ngọc Đế) dọn đi nơi khác, đem thiên cung nhường cho
ta là xong, nếu không nhường, nhất định ta đánh phá mãi không yên!”. Đến
đây, tinh thần phản kháng của Tôn Ngộ Không phát triển lên đến cùng tột,
không những muốn là “Tề Thiên”, mà lại muốn cướp lấy quyền thống trị của
thiên đình vào tay mình; đề ra khẩu hiệu phản kháng triệt để nhất lúc bấy giờ
là lật đổ nền thống trị của Ngọc Hoàng, như thế thật sung sướng biết nhường
nào! Khí phách hùng vĩ biết nhường nào! Trong chuyện đại náo thiên cung,
tác giả “Tây Du Ký” đã hết sức kích động tạo nên hình tượng chói lọi của kẻ
phản kháng triệt để ấy là hình tượng Tôn Ngộ Không. Tôn bạo dạn đi tìm lý
tưởng, còn dám phá hoại qui củ cũ, không thừa nhận bất cứ uy quyền nào
của kẻ thống trị vương quốc thần, tin tưởng vào lực lượng của mình, mưu
nắm hoàn toàn lấy vận mệnh của mình. Tôn dùng sức thần kỳ của mình làm
náo động tơi bời cả ba giới (trời, bể, đất) hoàn toàn làm rối loạn trật tự của
vương quốc thần. Thiên đình, cái nơi được coi là thần thánh bất khả xâm
phạm, đứng trước sự xung kích của lực lượng to lớn của Tôn Ngộ Không, đã
hoàn toàn bộc lộ cái tướng con hổ già bằng giấy, ngoài thì oai nghiêm mà
trong thì mềm yếu. Thiên cung của vương quốc thần là tượng trưng cho
vương triều phong kiến ở nhân gian; Tôn Ngộ Không đại náo thiên cung là
sự khái quát cao độ bằng tưởng tượng cuộc đấu tranh khởi nghĩa của nông
dân phản kháng vương triều phong kiến. Ở bảy hồi đầu “Tây Du Ký”, tác giả
đã tả Tôn Ngộ Không đại náo ở ba giới long cung, âm phủ và thiên cung, mà
không tả Tôn đại náo ở nhân gian. Tác giả, một mặt đem kẻ thống trị ở long
cung, âm phủ, thiên cung tả rõ ra là những kẻ hôn mê như thế kia; một mặt
coi các triều đình ở nhân gian như không có trong trời đất này. Ở trong trời
đất này, đánh một dấu hỏi để độc giả tự tìm tòi suy nghĩ. Việc đó không thể
bảo là không ngụ một ý sâu sắc.
Tôn Ngộ Không là một hình tượng lý tưởng hóa, là hóa thân của lý tưởng
và nguyện vọng của nhân dân lao động trong xã hội phong kiến. Sự đấu
tranh phản kháng của Tôn không thu được thắng lợi tối hậu; Tôn không hất
được Ngọc Hoàng ở trên ngôi báu hoàng đế xuống. Tôn Ngộ Không tuy có
tài nhảy cân đẩu vân xa được mười vạn tám nghìn dậm, nhưng lại không
thoát khỏi tay Phật Như Lai mà phải chịu chặn ép ở dưới núi Ngũ Hành. Cái
kết cục khiến người ta than tiếc ấy dã khái quát như lối ngụ ngôn tấn bi kịch
lịch sử của những cuộc khởi nghĩa nông dân bị thất bại trong xã hội phong
kiến. Tác giả đã ca tụng tinh thần đấu tranh phản kháng triệt để của Tôn Ngộ
Không nhưng vì bị hạn chế bởi thời đại và giai cấp, nên đã khoe khoang quá
thế lực của giai cấp thống trị. Tác giả cho rằng dù là cuộc đấu tranh phản
kháng dũng cảm nhất, triệt để nhất, cũng không hay thoát được lưới thống trị
ấy. Ở một mức nhất định, tác giả đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng chính
thống phong kiến, tư tưởng định mệnh, tìm không được lối thoát, nên chỉ xếp
đặt được kết cục như thế.
Việc đại náo thiên cung chỉ chiếm bảy hồi trong một trăm hồi của “Tây
Du Ký”, nhưng đây là bảy hồi sáng láng, rực rỡ, thể hiện được đầy đủ tinh
thần phản kháng triệt để và lý tưởng cách mạng của nhân dân.
“Tây Du Ký”, từ bẩy hồi đầu trở đi, lại chuyển vào chuyện đi lấy kinh.
Xét theo sự phát triển của chuyện, đấy là một bước ngoặt. Ở đây, việc đi lấy
kinh đại biểu cho sự lần mò đi tìm một lý tưởng; phản ánh nguyện vọng
mãnh liệt của nhân dân mưu toan tìm cách thoát khỏi hiện thực khổ cực.
Việc đi lấy kinh là sự kiện trung tâm của các sách “Thú kinh thi thoại”, “Thú
kinh tạp kịch”, tác giả “Tây Du Ký” lợi dụng việc ấy làm một đường dây để
miêu tả việc khắc phục tám mươi mốt tai nạn. Việc đi lấy kinh được coi là
mục đích của tác phẩm, vốn là một cái gì cực kỳ mờ ảo; cái được tác giả mô
tả chủ yếu lại là những cuộc chiến đấu khẩn trương, quyết liệt để đạt tới mục
đích ấy. Những cuộc chiến đấu này thật thiết thực, rõ ràng, một bước là một
in vết chân. Ở trong sự miêu tả thực tế của tác phẩm, mục đích đi lấy kinh ấy
khác xa, không trọng yếu bằng sự nỗ lực lớn lao phải bỏ ra để đạt tới mục
đích ấy. Vì thế, chúng ta cần phân tích ý nghĩa tư tưởng của chuyện đi Tây
Thiên lấy kinh; trọng điểm phải đặt vào sự đấu tranh của bọn Tôn Ngộ
Không vì muốn đến được Tây Thiên, đã phải đấu tranh với bao nhiêu yêu ma
quỷ quái trên đường đi.
Trong quá trình đi Tây Thiên lấy kinh, Tôn Ngộ Không đã đấu tranh để
quét trừ bọn yêu ma. Ý nghĩa hiện thực của cuộc đấu tranh trong thế giới
tưởng tượng ấy là ở chỗ: tuy biết tự mình không lật đổ được sự thống trị tối
cao của vương triều phong kiến, nhưng cứ phải tiếp tục tiến hành đấu tranh
để bừa sạch những thế lực tàn ác của vương triều phong kiến đương tác yêu
tác quái, trực tiếp tàn hại nhân dân trong xã hội.
Tôn Ngộ Không ra không thoát được tay phật Như Lai, bị chặn ở dưới núi
Ngũ Hành, cái đó tượng trưng sự thất bại của cuộc đấu tranh phản kháng
triệt để. Nhưng thiên đình cũng đã phải nếm đủ mọi sự lợi hại của “lão Tôn”.
Biết rằng “lão Tôn” không phải là người thích sinh sự, nên thiên đình đã thỏa
hiệp và nhượng bộ đối với Tôn Ngộ Không. Trên đường đi lấy kinh, để
chống lại sự phản kháng của Tôn, đã có cái “khấn cô nhi” trùm lên đầu Tôn,
nó tượng trưng cho thế lực thống trị. Nhưng Tôn Ngộ Không lại không đầu
hàng thiên đình, trở thành dứa đầy tớ cho Phật tổ, Ngọc Hoàng, để cho bọn
ấy sai khiến. Trái lại, Tôn lại đòi sơn thần, thổ địa, tứ hải long vương, công
tào, trực nhật, thiên binh, thiên tướng phải để cho mình sai khiến; thậm chí
cả Phật tổ, Ngọc Hoàng cũng phải phục vụ Tôn. Để đấu phép với yêu ma,
Tôn Ngộ Không lại đòi Ngọc Hoàng cho mượn trời để đóng cửa độ nửa giờ,
và đánh tiếng rằng: “Nếu hé nửa tiếng “không”, thì lập tức lên điện Linh
Tiêu dấy binh đao”. Ngọc Hoàng chỉ còn biết y theo thôi (hồi thứ 33). Tiếp
xúc với thần, phật, Tôn đều có thái độ khinh miệt mà giễu cợt trêu đùa họ. Ví
như ở hồi thứ 51 lúc đi qua núi Kim Đâu, Tôn Ngộ Không đấu phép với con
tỷ quái, bị mất gậy bịt vàng; Tôn Ngộ Không biết con tỷ quái nhất định là vị
hung tinh nào đó ở trên trời xuống hạ giới để tác quái, liền đi tìm Ngọc
Hoàng “hỏi tội cai quan không nghiêm “. Một khi gặp Ngọc Hoàng, Tôn
Ngộ Không liền hướng tới chào to mà rằng: “Chào lão quan, phiền ngài!
Phiền ngài!”. Khi gặp Phật tổ, Tôn liền đem ngay Phật ra làm trăm thứ trò
cười. Ví như ở hồi thứ: 77, khi qua động Sư Đà, núi Sư Đà, gặp ba con ma
độc ác, Ngộ Không tìm được phật Như Lai, nói với Phật rằng: “Bạch Như
Lai, tôi thấy người ta nói giống yêu kia có họ với Phật đấy!”. Lại nói: “Bạch
Như Lai, nếu so thứ bậc ra, thì người lại là cháu ngoại yêu tinh kia đấy”. Tôn
không nể nang chút nào, lột mặt nạ những kẻ gọi là tôn qui thống trị ở trên
trời, đem chúng ra làm trò cười, trêu giễu chúng, đùa cợt chúng, ở Tôn Ngộ
Không thật tuyệt nhiên không có bóng dáng “mặt đầy tơ, chân con hầu”, cúi
luồn nịnh hót. Ở trước mặt thần, phật, Tôn luôn luôn giữ thái độ ngạo nghễ
anh hùng. Việc đó biểu hiện khái quát tinh thần bất khuất của nhân dân lao
động trong xã hội phong kiến nước ta, tha thiết yêu tự do, không cam chịu
bất cứ sự áp bức nào, luôn tuôn ngạo nghễ đối với giai cấp thống trị phong
kiến. Việc đấu tranh của Tôn Ngộ Không trên đường đi lấy kinh là kế tục
việc đấu tranh của Tôn khi đại náo thiên cung, có điều là phạm vi đấu tranh
có hạn chế; phương thức và phương pháp đấu tranh có thay đổi.
Trên đường đi lấy kinh, Tôn Ngộ Không đã mở rộng cuộc đấu tranh
ngoan cường với bọn yêu ma. Những yêu ma tưởng tượng này phản ánh một
hiện thực đương thời là những thế lực hung ác của phong kiến. Bọn ấy đều
trục tiếp cấu kết với giai cấp thống trị thượng tầng. Như Hoàng Bào lão yêu
là Khuê Mộc Lang tinh ở trên trời; Kim Giác đại vương, Ngân Giác đại
vương ở núi Bình Đính là hai đồng tử trông coi lò thuốc của Thái Thượng
lão quân; Độc Giác Tỷ đại vương ở động Kim Đâu là con trâu xanh của Thái
Thượng Lão quân v.v... Tôn Ngộ Không, với trí tuệ vô cùng, dũng cảm phi
thường, đã chiến đấu ngoan cường, để chiến thắng dần dần từng đứa một, đã
rẫy sạch những thế lực hung ác tàn hại nhân dân. Đó chính là thiện đã chiến
thắng ác, sáng đã chiến tối, phản ánh rõ nguyện vọng của nhân dân. Thứ nữa,
những thần quái yêu ma trong “Tây Du Ký” không những là thể hiện một số
lực lượng xã hội mà cũng thể hiện một số lực lượng thiên nhiên đã nhân cách
hóa; cả hai thường không tách rời nhau. Tôn Ngộ Không, trong truyện đi lấy
kinh, không những đã thể hiện lý tưởng của nhân dân lao động chiến thắng
thế lực hung ác của xã hội trong cuộc đấu tranh giai cấp mà lại cũng đã thể
hiện lý tưởng của nhân dân lao động chiến thắng tự nhiên, chinh phục tự
nhiên trong cuộc đấu tranh sản xuất. Còn như bọn Ngọc Hoàng, Long
Vương, Diêm Vương trên vương quốc, thần trên trời chẳng những là bóng
tối của kẻ thống trị phong kiến trong xã hội hiện thực, mà cũng là chúa tể
của sức tự nhiên đã được thần hóa trong tưởng tượng của người. Tôn Ngộ
Không đã chiến thắng những thần quái yêu ma ấy cũng chính là Tôn đã
chiến thắng được thiên nhiên thường gây ra tai họa...
... Trong toàn bộ sách, tính cách của Tôn Ngộ Không đã giữ được tính
thống nhất. Đi Tây Thiên lấy kinh là tính cách của Tôn phát triển tiến lên
một bước, chứ nhất định không phải là phủ định tinh thần phản kháng khi đại
náo thiên cung. Tôn Ngộ Không thủy chung vẫn là một kẻ anh hùng đã được
lý tưởng hóa cao độ. Tôn không sợ trời, không sợ đất. Tôn có tinh thần chiến
đấu phản kháng hết thảy sự áp bức của thống trị, kiên quyết khắc phục hết
thảy các khó khăn; có trí tuệ và sức mạnh vô cùng; có phẩm chất cao quí, chí
công vô tư, tha thiết yêu anh em, đồng tình và giúp đỡ những kẻ nhỏ yếu bị
hại. Tất cả những cái đó đều lả cái mà nhân dân lao động vốn có, đồng thời
lại là cái đã được lý tưởng hóa đến cao độ.
Cái tinh thần phản kháng, ngạo nghễ, bất khuất, đánh đổ hết thẩy của Tôn
Ngộ Không là nhằm vào giai cấp thống trị phong kiến mà chĩa mũi nhọn,
điều đó có ý nghĩa tiến bộ rất lớn. Tính cách của Tôn là tích cực, hình tượng
của Tôn mãi mãi được thiếu niên nhi đồng yêu thích, rất có tác dụng đến sự
hình thành tính cách của các em. Chúng ta phải giải thích chính xác cho các
em hiểu rõ điều kiện lịch sử đã sản sinh ra hình tượng đó và vận dụng một
cách đúng đắn hình tượng đầy màu sắc thần kỳ này trong văn học cổ điển
nước ta, để giúp cho thiếu niên nhi đồng của chúng ta phát triển ý chí không
sợ khó khăn, ngoan cường đấu tranh để kiến thiết Tổ quốc, bảo vệ Tổ quốc.
Trong “Tây Du Ký” Ngô Thừa Ân, ngoài việc sáng tạo ra hình tượng rực
rỡ Tôn Ngộ Không, lại còn sáng tạo thành công hình tượng Trư Bát Giới.
Tính cách của Trư Bát Giới rõ và nổi lạ thường, gieo cho ta có một cảm giác
thực, mạnh mẽ. Sở dĩ chú...
LỜI NÓI ĐẦU
TÀI LIỆU CỦA BỘ BIÊN TẬP NHÀ XB NHÂN DÂN VĂN HỌC
BẮC KINH BÀN VỀ TÂY DU KÝ
I. ĐỜI SỐNG TƯ TƯỞNG CỦA NGÔ THỪA ÂN VÀ
NGUỒN GỐC “TÂY DU KÝ”
II. Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG CỦA “TÂY DU KÝ”
III. THÀNH CÔNG VỀ NGHỆ THUẬT CỦA – “TÂY DU
KÝ”
HỒI THỨ NHẤT
HỒI THỨ HAI
HỒI THỨ BA
HỒI THỨ BỐN
HỒI THỨ NĂM
HỒI THỨ SÁU
HỒI THỨ BẢY
HỒI THỨ TÁM
HỒI THỨ CHÍN
HỒI THỨ MƯỜI
HỒI THỨ MƯỜI MỘT
HỒI THỨ MƯỜI HAI
HỒI THỨ MƯỜI BA
HỒI THỨ MƯỜI BỐN
HỒI THỨ MƯỜI LĂM
HỒI THỨ MƯỜI SÁU
HỒI THỨ MƯỜI BẢY
HỒI THỨ MƯỜI TÁM
HỒI THỨ MƯỜI CHÍN
HỒI THỨ HAI MƯƠI
HỒI THỨ HAI MƯƠI MỐT
HỒI THỨ HAI MƯƠI HAI
HỒI THỨ HAI MƯƠI BA
HỒI THỨ HAI MƯƠI BỐN
HỒI THỨ HAI MƯƠI LĂM
HỒI THỨ HAI MƯƠI SÁU
HỒI THỨ HAI MƯƠI BẢY
HỒI THỨ HAI MƯƠI TÁM
HỒI THỨ HAI MƯƠI CHÍN
HỒI THỨ BA MƯƠI
HỒI THỨ BA MƯƠI MỐT
HỒI THỨ BA MƯƠI HAI
HỒI THỨ BA MƯƠI BA
HỒI THỨ BA MƯƠI TƯ
HỒI THỨ BA MƯƠI LĂM
HỒI THỨ BA MƯƠI SÁU
HỒI THỨ BA MƯƠI BẢY
HỒI THỨ BA MƯƠI TÁM
HỒI THỨ BA MƯƠI CHÍN
HỒI THỨ BỐN MƯƠI
HỒI THỨ BỐN MƯƠI MỐT
HỒI THỨ BỐN MƯƠI HAI
HỒI THỨ BỐN MƯƠI BA
HỒI THỨ BỐN MƯƠI TƯ
HỒI THỨ BỐN MƯƠI LĂM
HỒI THỨ BỐN MƯƠI SÁU
HỒI THỨ BỐN MƯƠI BẢY
HỒI THỨ BỐN MƯƠI TÁM
HỒI THỨ BỐN MƯƠI CHÍN
HỒI THỨ NĂM MƯƠI
HỒI THỨ NĂM MƯƠI MỐT
HỒI THỨ NĂM MƯƠI HAI
HỒI THỨ NĂM MƯƠI BA
HỒI THỨ NĂM MƯƠI TƯ
HỒI THỨ NĂM MƯƠI LĂM
HỒI THỨ NĂM MƯƠI SÁU
HỒI THỨ NĂM MƯƠI BẢY
HỒI THỨ NĂM MƯƠI TÁM
HỒI THỨ NĂM MƯƠI CHÍN
HỒI THỨ SÁU MƯƠI
HỒI THỨ SÁU MƯƠI MỐT
HỒI THỨ SÁU MƯƠI HAI
HỒI THỨ SÁU MƯƠI BA
HỒI THỨ SÁU MƯƠI TƯ
HỒI THỨ SÁU MƯƠI LĂM
HỒI THỨ SÁU MƯƠI SÁU
HỒI THỨ SÁU MƯƠI BẢY
HỒI THỨ SÁU MƯƠI TÁM
HỒI THỨ SÁU MƯƠI CHÍN
HỒI THỨ BẢY MƯƠI
HỒI THỨ BẢY MƯƠI MỐT
HỒI THỨ BẢY MƯƠI HAI
HỒI THỨ BẢY MƯƠI BA
HỒI THỨ BẢY MƯƠI TƯ
HỒI THỨ BẢY MƯƠI LĂM
HỒI THỨ BẢY MƯƠI SÁU
HỒI THỨ BẢY MƯƠI BẢY
HỒI THỨ BẢY MƯƠI TÁM
HỒI THỨ BẢY MƯƠI CHÍN
HỒI THỨ TÁM MƯƠI
HỒI THỨ TÁM MƯƠI MỐT
HỒI THỨ TÁM MƯƠI HAI
HỒI THỨ TÁM MƯƠI BA
HỒI THỨ TÁM MƯƠI TƯ
HỒI THỨ TÁM MƯƠI LĂM
HỒI THỨ TÁM MƯƠI SÁU
HỒI THỨ TÁM MƯƠI BẢY
HỒI THỨ TÁM MƯƠI TÁM
HỒI THỨ TÁM MƯƠI CHÍN
HỒI THỨ CHÍN MƯƠI
HỒI THỨ CHÍN MƯƠI MỐT
HỒI THỨ CHÍN MƯƠI HAI
HỒI THỨ CHÍN MƯƠI BA
HỒI THỨ CHÍN MƯƠI TƯ
HỒI THỨ CHÍN MƯƠI LĂM
HỒI THỨ CHÍN MƯƠI SÁU
HỒI THỨ CHÍN MƯƠI BẢY
HỒI THỨ CHÍN MƯƠI TÁM
HỒI THỨ CHÍN MƯƠI CHÍN
HỒI THỨ MỘT TRĂM
LỜI NÓI ĐẦU
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
“Tây Du Ký”, tiểu thuyết của Ngô Thừa Ân, một pho tiểu thuyết kiệt xuất
trong văn học Trung Quốc, dài một trăm hồi, chia làm 3 tập.
Bộ tiểu thuyết này dịch theo bản chữ Trung Quốc do “Tác giả xuất bản xã
Bắc Kinh” ấn hành năm 1957. Những tài liệu bàn về chủ đề và nhân vật Tây
Du Ký, nhận định về giá trị bộ tiểu thuyết này của các nhà văn và nhà phê
bình Trung Quốc do Bộ Biên tập Nhà xuất bản Nhân dân văn học Bắc Kinh
ấn hành.
Với bản dịch này, trong tình hình hiện tại, chúng tôi cũng chỉ dám coi là
một tài liệu công phu để giúp hạn đọc tham khảo, bởi vì theo chúng tôi nó
vẫn còn nhiều chỗ cần bàn.
Tranh bìa và tranh minh họa, chúng tôi chụp lại trong những tập sách
tranh vẽ truyện Tây Du của Nhà xuất bản “Nhân dân Mỹ thuật Thượng Hải”
ấn hành năm 1956.
Trong quá trình tuyển chọn một bản dịch thật hoàn hảo, lần in này chúng
tôi xin giới thiệu bản dịch của Thụy Đình do nhà nghiên cứu Chu Thiên hiệu
đính.
Chúng tôi rất mong được sự đóng góp của bạn đọc.
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
TÀI LIỆU CỦA BỘ BIÊN TẬP NHÀ XB NHÂN DÂN
VĂN HỌC BẮC KINH BÀN VỀ TÂY DU KÝ
I. ĐỜI SỐNG TƯ TƯỞNG CỦA NGÔ THỪA ÂN VÀ
NGUỒN GỐC “TÂY DU KÝ”
“Tây Du Ký” là một bộ tiểu thuyết thần thoại trường thiên, lãng mạn tích
cực rất vĩ đại. Quá trình ra đời của bộ truyện này cũng giống như “Tam quốc
diền nghĩa” và “Thủy Hử”: gốc gác của truyện đã lưu truyền lâu dài trong
dân gian từ trước; sau đó một hoặc vài tác gia dựa trên cơ sở sáng tác tập thế
của nhân dân; lại sáng tạo thêm thành sách.
Song căn cứ vào tài liệu hiện có mà xét thì truyện “Tam Quốc diễn nghĩa”
và “Thủy Hử”, trước khi thành sách đã có đầy đủ về qui mô kết cấu trên đại
thể. Còn “Tây Du Ký” thành được sách chủ yếu là do tác giả Ngô Thừa Ân
sáng tạo ra: “Tây Du Ký” được đúc kết bởi sự lao động sáng tạo lớn lao của
tác giả.
Ngô Thừa Ân (1500 (?) tên tự là Nhũ Trung, tên hiệu là Xa Dương sơn
nhân, là người ở huyện Sơn Âm, phủ Hoài An (nay là huyện Hoài An, tỉnh
Giang Tô). Ông sinh trong một gia đình quan lại cấp dưới lưu lạc sa sút
thành tiểu thương. Cha tên là Ngô Nhuệ, một tiểu thương bán “chỉ màu vải
hoa”, rốt ham đọc sách, “từ lục kinh đến bách gia chư tử không sách nào là
không xem” (Ngô Thừa Ân: “Bài minh của mộ chí Tiên phú quân”). Ngô
Thừa Ân từ lúc thiếu niên, văn chương đã nổi tiếng nhất làng. Trong bài “Xạ
Dương tiên sinh tồn cáo bạt” của Ngô Quốc Vinh có nói: “Xạ Dương tiên
sinh khi còn để trái đào, văn chương đã có tiếng đồn ở vùng sông Hoài.
Những người đến thăm, đến chơi, xin bài, hỏi chữ, luôn luôn không ngớt”…
Sách Hoài An phú chi của Thiên Khải có nói về ông: “Ông tinh lanh lẹ,
thông minh, xem rộng hết các sách; khi làm văn thơ, hạ bút là thành bài;
thanh nhã tươi đẹp, có phong cách như Tân Thiếu Du. Ông lại giỏi hài kịch,
viết được một số vở nổi tiếng một thời”. Nhưng ở cái thời đại kén người
bằng lối văn bát cổ, một người trí thức có tài năng như thế, đành “lận đận
mãi nơi trường ốc”, mãi đến năm 45 tuổi, ông mới thi đậu được chức tuế
cống sinh. Ông đã lên kinh dự tuyển, vì thân phận là người khách lạ Bắc
Kinh nên đã nếm đủ mùi lạnh nhạt của phố phường. Sau bởi mẹ già nhà khổ,
ông miễn cưỡng phải ra nhận chức thừa ở huyện Trường Hưng. Nhận chức
được một hai năm, ông “thẹn nỗi khom lưng, rũ áo ra về”. Sau ông lại đến
Kim Lăng (Nam Kinh) tìm việc, nhưng vẫn không thi thố được gì. Lúc già,
ông quay về làng rượu, thơ vui thú, làm công việc sáng tác văn học. Ông ở
nhà được hơn mười năm thì qua đời. Tiểu thuyết “Tây Du Ký” áng chừng
viết lúc tuổi già, thời kỳ ông ở quê nhà. Sáng tác của Ngô Thừa Ân rất nhiều,
nhưng vì nhà nghèo, lại không có con nối dòng, nên một bộ phận lớn sáng
tác của ông đều bị mất mát cả. Tác phẩm hiện còn, trừ “Tây Du Ký” ra, còn
có bốn quyển “Xạ dương tiên sinh tồn cáo” do người sau góp nhặt lại được.
Ngô Thừa Ân xuất thân ở một gia đình sĩ hoạn sa sút, lưu lạc thành tiểu
thương. Tiểu thương hồi đó không có địa vị xã hội. Ông đã ghi thuật trong
bài minh của mộ chí Tiên phủ quân về tình cảnh nhà ông luôn bị quan lại
dọa nạt. Do bị tư tưởng phong kiến trói buộc, tuy ông đã hết sức viết về phụ
thân mình cho thành người dân lành an phận trong xã hội đương thời, nhưng
cũng không che đậy nổi sự tức giận đối với hiện thực đen tối, Phụ thân ông
“thích bàn chuyện thời thế, hễ điều gì bất bình thì vỗ ghế tức giận, thái độ
hằm hằm”, đó chính là phản ánh người tiểu thương lúc ấy, bị giai cấp phong
kiến thống trị đè nén về mặt chính trị và mặt kinh tế.
Tư tưởng của Ngô Thừa Ân trên cơ bản vẫn là tư tưởng nhà nho truyền
thống, chủ trương làm điều vương đạo, hết lẽ vua tôi, cái xã hội mà ông
mộng tưởng là cái xã hội Tam đại, lưỡng Hán đã lý tưởng hóa. Bài phú
“Minh Đường” của ông là một bài ca tụng giai cấp thống trị phong kiến, còn
thì khá nhiều thơ ca, nhất là văn xuôi của ông, cũng đều có ý thức phong
kiến khá đậm. Nhưng cũng bởi địa vị xã hội của người tiểu thương, bởi
đường khoa cử lận đận, nên cái hố ngăn cách giữa ông và bọn thống trị
phong kiến ngày càng to. Nhờ kinh nghiệm thiết thân nên ông càng ngày
càng nhận rõ hơn cái hiện thực đen tối của xã hội hồi đó. Qua một số thơ của
ông có thể thấy được tính cách của ông là sốt sắng yêu tự do, hào phóng,
không câu thúc. Ở dưới sự thống trị phong kiến đen tối và nghiệt ngã của
triều Minh, ông căm ghét chủ nghĩa chuyên chế. Ở dưới sự chỉ đạo của tư
tưởng nho gia truyền thống, ông có hoài bão về chính trị, hy vọng làm nên sự
nghiệp một phen; nhưng trước cái hiện tượng xã hội “hàng ngũ ngày thưa,
thuế dịch ngày nặng, cơ giới ngày nhiều, thói quen gian trá ngày càng đua
nhau” (bài tự tặng Vệ Hầu Chương Quân đi nhậm) khiến ông không thể
không thốt ra lời cảm thán “phong tục lâu nay ta không nỡ nói rõ!” (bài tự
tiễn Quận bá là Thiệu Cố Ngu được bổ đi làm hiến phó tỉnh Sơn Đông). Từ
đấy sự bất mãn mạnh mẽ đối với hiện thực càng làm mạnh thêm chí lớn giúp
thời sửa thế của ông. Trong bài ca ở tranh “Nhị Lang tìm núi”, ông đã nói:
“... Binh thần săn tà và săn muông thú; dò tận hang, phá cả tổ, không còn sót
một con nào. Uy thế lúc bình sinh nay ở đâu? Nanh vuốt tuy còn, dám rong
ruổi nhung nhăng chăng!... Người ở nơi đồng nội có hoài bão, cảm kích
nhiều, thấy việc, ở trước gió thở dài ba cái. Ở trong bụng đã mài mòn đao
chém tà, muốn vùng dậy, nhưng giận rằng không có sức. Cứu mặt trăng có
tên, cứu mặt trời có cung, ở thế gian há bảo không có kẻ anh hùng? Ai hay
đưa lại cho ta những người tài hiếm như con lân, con phượng để khiến cho
mãi mãi muốn nắm giữ được cái công trừ giặc yên dân...”.
Ông đem thế lực hung ác, tàn hại nhân dân ở trong xã hội ví với các quỉ
quái Lị, Mị, Võng, Lượng; nêu rõ giai cấp thống trị là nguồn gốc tai nạn của
nhân dân. Ông muốn dùng “đao chém tà” để tiêu diệt những bọn hề ấy,
nhưng “muốn vùng dậy dẹp chúng mà giận rằng không có sức”. Lý tưởng
không thực hiện được, thế là nỗi căm giận hiện thực đen tối, cái nhiệt tình
giúp thời sửa thế, trừ bạo an dân của ông liền phát sinh và thể hiện rõ trong
“Tây Du Ký”.
Ngô Thừa Ân lúc còn bé, thích những chuyện thần thoại. Lúc đứng tuổi,
ông đã căn cứ vào truyện thần thoại dân gian viết một bộ tiểu thuyết ma quái
tên là “Vũ Đình Chí”. Tiếc rằng bộ ấy thất truyền, chỉ còn bài tựa. Trong bài
tựa nói: “Ta lúc bé đã thích chuyện lạ. Lúc ở trường xã, học trẻ con, thường
mua trộm những truyện vặt, dã sử, nhưng sợ cha và thầy mắng, phải tìm chỗ
kín để đọc. Khi lớn lên, thích càng nhiều, nghe càng lạ. Đến lúc đã ba mươi
tuổi, tìm tòi mua kiếm các sách, truyện, cơ hồ chứa đầy trong bụng... Tuy
sách của ta tên là sách ma quái, nhưng không chuyên nói về ma quỷ, thỉnh
thoảng cũng chép những biến dị ở nhân gian là có ý khuyên răn ngụ ở trong
ấy...”
Ngô Thừa Ân không những thuộc nhiều chuyện thần thoại, dùng đề tài
thần thoại viết ra được thành công, mà còn định rõ được ý muốn của sáng
tác, hy vọng thông qua tác phẩm để đạt mục đích giáo dục xã hội, chứ không
phải chỉ là viết để viết.
Có khuynh hướng tư tưởng tiến bộ, lại giỏi vận dụng đề tài phong phú
của truyền thuyết thần thoại nên Ngô Thừa Ân sáng tạo ra được “Tây Du
Ký”, pho tiểu thuyết thần thoại trường thiên, lãng mạn tích cực vĩ đại như
thế.
Nhưng “Tây Du Ký” lại không phải do riêng cá nhân Ngô Thừa Ân sáng
tác ra. Gốc gác câu truyện đã lưu truyền rộng rãi ở dân gian và không ngừng
diễn biến, đã từ lâu trước khi có Ngô Thừa Ân.
Muốn khảo sát nguồn gốc “Tây Du Ký”, phải ngược lại những năm đầu
nhà Đường. Năm thứ 2 niên hiệu Trinh Quán (628), có một vị sư thanh niên
là Huyền Trang không sợ gian nan hiểm trở, một mình sang Thiên Trúc (Ấn
Độ) lấy kinh. Ông đi lâu đến 17 năm, qua hơn năm mươi nước, trải hết trăm
cay nghìn đắng, chín phần chết một phần sống, cuối cùng mang về được 657
bộ kinh. Lúc bấy giờ, giao thông chua phát đạt, giữa nước này với nước kia
sự giao thiệp không thân mật thì Huyền Trang sang Thiên Trúc thật là một
việc kinh người.
Việc từng trải trên đường dài, việc sinh sống ở nước khác trong hơn 10
năm của ông không những làm cho mọi người thán phục, mà còn đem lại
cho mọi người một nguồn tưởng tượng phong phú. Thêm vào đấy, tín đồ đạo
Phật muốn mở rộng ảnh hưởng dạo mình, nên cố ý tô vẽ thêm vào câu
chuyện Huyền Trang đi lấy kinh, cho nên chuyện Huyền Trang đi lấy kinh,
bắt đầu từ lúc học trò ông là Tuệ Lập viết ra quyển truyện ký “Đại Đường Từ
Ân tự Tam Tạng pháp sư truyện” liền có đủ màu sắc thần bí của tôn giáo.
Những truyện ấy được thần kỳ hóa lại chính là bắt đầu từ sau khi nó được
lưu hành ở trong dân gian. Được lưu hành trong dân gian nó thành sở hữu
của nhân dân. Nhân dân lao động xuất phát từ hứng thú nghệ thuật của bản
thân mình, lại dựa vào nguyện vọng của mình, đã làm cho câu chuyện phát
triển phong phú thêm lên. Câu chuyện dần dần tách khỏi lịch sử Huyền
Trang đi lấy kinh để mỗi ngày một diễn biến kỳ lạ...
... Chuyện Đường Tăng đi lấy kinh, trong quá trình lưu truyền mấy trăm
năm, đã dần dần được thêm thắt phong phú lên. Đến tay Ngô Thừa Ân, trải
qua những sự lấy bỏ, thêm bớt, sáng tạo, mới thành ra một tác phẩm nghệ
thuật vĩ đại như thế.
Sự sáng tạo lớn lao của Ngô Thừa Ân, chủ yếu biểu hiện ở ba mặt dưới
đây:
1. Cứ theo sự kết cấu và tình tiết truyện mà xét, tác giả đem mấy truyện
đã có sẵn, nối liền chúng lại với nhau một cách khéo léo rồi tô điểm, mở
rộng, sửa đổi và gán vào trong sáng tác của mình, khiến chúng xoay quanh
chủ đề, trở nên một khối hoàn chỉnh. Nhờ ở sự ham thích thần thoại và óc
tưởng tượng của mình, ông còn sáng tạo ra một số truyện khác dung hợp với
chuyện có sẵn trong dân gian.
2. Xét trên mặt tư tưởng chủ đề, ông đã cải tạo và nâng cao câu chuyện đi
lấy kinh vẫn lưu truyền trong dân gian, bồi bổ cho nó một ý nghĩa mới, khiến
cho nó có một chủ đề rõ ràng và một tính khuynh hướng mạnh mẽ. Tác giả
lại căn cứ vào sự quan sát và sự nhận xét của mình đối với hiện thực, mà tiến
hành phê phán xã hội một cách sâu rộng.
3. Xét về mặt xây dựng hình tượng nghệ thuật, nhân vật trong truyện đi
lấy kinh trước kia phần lớn chỉ là thô sơ, không có cá tính rõ rệt. Mà điều
đáng chú ý là qua bản thân các nhân vật đó, ta không thấy khái quát được
phần nào bản chất của lực lượng xã hội. Trải qua sự sáng tạo thiên tài của
Ngô Thừa Ân, hình tượng sáng ngời, bất hủ của Tôn Ngộ Không mới được
gọt rũa nên. Tôn Ngộ Không giữ một địa vị rất chủ yếu trong “Tây Du Ký”;
ở Tôn không những có đủ cá tính rõ rệt, mà còn khái quát sâu sắc được nội
dung xã hội. Nhờ đó mà “Tây Du Ký” đã hoàn thành được sự thay đổi về
chất, đã từ một bộ truyện của các tín đồ tôn giáo trở thành một tác phẩm
dùng đề tài thần thoại viết thành truyền kỳ của nhân dân anh hùng.
Có thể nói như thể này: không có truyện đi lấy kinh của dân gian, thì
không thể có “Tây Du Ký” của Ngô Thừa Ân; không có sáng tạo gia công
thiên tài của Ngô Thừa Ân thì “Tây Du Ký” cũng không thể hoàn chỉnh
được như thế, không thể đạt được đích cao về tư tưởng và nghệ thuật như
thế.
II. Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG CỦA “TÂY DU KÝ”
“Tây Du Ký” là một bộ tiểu thuyết thần thoại trường thiên vĩ đại. Truyện
rạng rỡ chủ yếu trên hình tượng nghệ thuật Tôn Ngộ Không. Tôn Ngộ
Không là hình tượng anh hùng lý tưởng rất giàu màu sắc thần kỳ, tỏa sáng ra
bốn phía trong phòng tranh văn học cố điển nước ta.
Tôn Ngộ Không là đứa trẻ của tự nhiên, đứa trẻ từ một khối đá tiên sinh
đẻ ra. Nó nhờ ở dũng cảm và trí tuệ của mình mà làm chúa đàn khỉ ở động
Thủy Liêm, núi Hoa Quả. Tác giả tả động Thủy Liêm, núi Hoa Quả được
mười phần tươi đẹp như là một lạc viên lý tưởng. Một bầy khỉ ở trong
khoảng trời đất, tự do tự tại, “không chịu kỳ lân trông coi, không chịu
phượng hoàng cai quản, cũng không chịu vua ở nhân gian ràng buộc”.
Nhưng Tôn Ngộ Không lại phải chịu sự quản thúc của vua Diêm Vương; vận
mệnh của Tôn lại không phải do chính Tôn nắm lấy được. Đối với một việc
không thể nào chịu được ấy, Tôn Ngộ Không bèn rèn luyện tài nghệ của
mình, náo động long cung, lấy của Đông Hải long vương cái gậy gọi là “gậy
như ý bịt vàng trấn đáy sông trời” nặng 13.500 cân, múa gậy đánh xuống âm
phủ “làm cho quỷ đầu trâu kia sợ phải trốn đông trốn tây, quỷ mặt ngựa kia
sợ phải chạy nam chạy bắc”. Ngay cả vua Diêm Vương cũng sợ phải phải
lên tiếng xin thượng tiên cho biết tên!”, phải đem số sinh tử ra để Tôn Ngộ
Không xóa bỏ tên tuổi loài khỉ ở trong ấy. Rõ là Tôn Ngộ Không phản kháng
bất cứ sự áp bách nào, Tôn khiêu chiến một cách táo bạo với số mệnh! Tôn
Ngộ Không náo động long cung, khuấy rối âm phủ, Long Vương, Diêm
Vương không làm gì được, đành phải kêu với chúa tể của họ là Ngọc Hoàng,
kẻ thống trị cao nhất của thế giới thần. Kẻ thống trị ở thiên đình ấy cũng lại
chẳng cao minh gì hơn Long Vương và Diêm Vương, nhưng biết không thể
đối phó được với Tôn, bèn bày ra kế đánh lừa Tôn Ngộ Không lên trời. Tôn
Ngộ Không lên đến thiên đình, với thái độ một người thắng thế, vào yết kiến
Ngọc Hoàng; Thái Bạch kim tinh hướng vào Ngọc Hoàng lạy, Tôn Ngộ
Không cứ thẳng người đứng ở cạnh. Đến lúc Ngọc Hoàng hỏi: “Ai là tiên
yêu quái?” Tôn Ngộ Không chỉ cúi mình trả lời một tiếng là: “Chính lão Tôn
đây!”. Thái độ ngang tàng của Tôn ở trước mặt Ngọc Hoàng trong thế giới
thần thoại, đã phản ánh một cách khái quát sự khinh miệt của nhân dân lao
động đối với sự quyền quí và chế độ đẳng cấp trong xã hội phong kiến, phản
ánh yêu cầu và nguyện vọng của họ: dân chủ, bình đẳng. Khi Tôn Ngộ
Không biết rằng việc mình được phong làm “Bật mã ôn” chi là một việc lừa
dối, Tôn bèn bừng bừng lửa giận, đánh ra cửa Nam Thiên. Thiên đình điều
binh khiển tướng đến đánh, kết quả bị Tôn Ngộ Không đánh cho tơi bời, tán
loạn như hoa trôi nước chảy. Từ đấy Tôn Ngộ Không lặng lẽ, dứt khoát dựng
cờ hiệu, tự xưng là “Tề Thiên Đại Thánh”, chống lại với thiên đình. “Trời” là
vương quốc của thần, là tượng trưng của thế lực thống trị cao nhất; Tôn Ngộ
Không lại dựng lên hiệu cờ “Tề Thiên Đại Thánh” việc ấy chứng tỏ rõ ràng
là Tôn tự coi mình ngang với trời, quyết không chịu sự cai quản của thế lực
thống trị trên “nước trời”. Tinh thần phản kháng của Tôn Ngộ Không lúc bấy
giờ so với lúc náo long cung; náo âm phủ lại tiến lên một bước nữa, là dám
chọi lại với thiên đình. Kẻ thống trị ở trên trời sợ uy lực lớn lao của Tôn Ngộ
Không, không thể không thừa nhận Tôn là “Tề Thiên Đại Thánh” được. Ấy
là lần thứ hai trời lừa Tôn Ngộ Không lên thiên quốc. Tôn Ngộ Không ở trên
thiên cung, vẫn hiềm vì bị người quản thúc, cuộc sống không được tự do,
cho nên giả ngây giả dại. Không lâu, Tôn lại náo động ngay thiên cung một
mẻ rối tùng phèng nữa sau đó lại ra khỏi cửa trời. Thiên đình tốn hết sức lực
mới bắt được Tôn, nhưng không có cách nào giết nổi Tôn. Tôn bị bỏ vào
trong lò Bát quái của Thái Thượng lão quân đang luyện thuốc. Lò ấy luyện
được bảy bảy bốn mươi chín ngày; nhân lúc Lão quân mở lò để lấy thuốc,
Tôn liền nhảy vọt ra, trèo lên trên lò Bát Quái. Lão quân đến bên toan tóm
bất, bị Tôn xô ngã lộn nhào. Lập tức rút ở trong lỗ tai ra cây gậy như ý, vung
trước gió, thành cây gậy tròn xoe to bằng cái chén, cứ thế nắm ở trong tay,
bất biết hay dở, lại đại náo cung trời, đánh cho chín diệu tinh phải đóng chặt
cửa cổng, bốn thiên vương không còn bóng dáng nữa”. Ghế ngọc của Ngọc
Hoàng trước mắt cũng lung lay không yên. May sao có Như Lai đến cứu.
Tôn Ngộ Không bèn nói trắng ra với Như Lai rằng: “Kẻ mạnh là cao quý,
phải nhường cho ta: anh hùng chỉ thế đấy ai dám tranh hơn!”. Và lại nói:
“Người ta thường bảo: ngôi hoàng đế luân lưu, sang năm đến lượt ta! Chỉ
cần bảo với hắn (chỉ Ngọc Đế) dọn đi nơi khác, đem thiên cung nhường cho
ta là xong, nếu không nhường, nhất định ta đánh phá mãi không yên!”. Đến
đây, tinh thần phản kháng của Tôn Ngộ Không phát triển lên đến cùng tột,
không những muốn là “Tề Thiên”, mà lại muốn cướp lấy quyền thống trị của
thiên đình vào tay mình; đề ra khẩu hiệu phản kháng triệt để nhất lúc bấy giờ
là lật đổ nền thống trị của Ngọc Hoàng, như thế thật sung sướng biết nhường
nào! Khí phách hùng vĩ biết nhường nào! Trong chuyện đại náo thiên cung,
tác giả “Tây Du Ký” đã hết sức kích động tạo nên hình tượng chói lọi của kẻ
phản kháng triệt để ấy là hình tượng Tôn Ngộ Không. Tôn bạo dạn đi tìm lý
tưởng, còn dám phá hoại qui củ cũ, không thừa nhận bất cứ uy quyền nào
của kẻ thống trị vương quốc thần, tin tưởng vào lực lượng của mình, mưu
nắm hoàn toàn lấy vận mệnh của mình. Tôn dùng sức thần kỳ của mình làm
náo động tơi bời cả ba giới (trời, bể, đất) hoàn toàn làm rối loạn trật tự của
vương quốc thần. Thiên đình, cái nơi được coi là thần thánh bất khả xâm
phạm, đứng trước sự xung kích của lực lượng to lớn của Tôn Ngộ Không, đã
hoàn toàn bộc lộ cái tướng con hổ già bằng giấy, ngoài thì oai nghiêm mà
trong thì mềm yếu. Thiên cung của vương quốc thần là tượng trưng cho
vương triều phong kiến ở nhân gian; Tôn Ngộ Không đại náo thiên cung là
sự khái quát cao độ bằng tưởng tượng cuộc đấu tranh khởi nghĩa của nông
dân phản kháng vương triều phong kiến. Ở bảy hồi đầu “Tây Du Ký”, tác giả
đã tả Tôn Ngộ Không đại náo ở ba giới long cung, âm phủ và thiên cung, mà
không tả Tôn đại náo ở nhân gian. Tác giả, một mặt đem kẻ thống trị ở long
cung, âm phủ, thiên cung tả rõ ra là những kẻ hôn mê như thế kia; một mặt
coi các triều đình ở nhân gian như không có trong trời đất này. Ở trong trời
đất này, đánh một dấu hỏi để độc giả tự tìm tòi suy nghĩ. Việc đó không thể
bảo là không ngụ một ý sâu sắc.
Tôn Ngộ Không là một hình tượng lý tưởng hóa, là hóa thân của lý tưởng
và nguyện vọng của nhân dân lao động trong xã hội phong kiến. Sự đấu
tranh phản kháng của Tôn không thu được thắng lợi tối hậu; Tôn không hất
được Ngọc Hoàng ở trên ngôi báu hoàng đế xuống. Tôn Ngộ Không tuy có
tài nhảy cân đẩu vân xa được mười vạn tám nghìn dậm, nhưng lại không
thoát khỏi tay Phật Như Lai mà phải chịu chặn ép ở dưới núi Ngũ Hành. Cái
kết cục khiến người ta than tiếc ấy dã khái quát như lối ngụ ngôn tấn bi kịch
lịch sử của những cuộc khởi nghĩa nông dân bị thất bại trong xã hội phong
kiến. Tác giả đã ca tụng tinh thần đấu tranh phản kháng triệt để của Tôn Ngộ
Không nhưng vì bị hạn chế bởi thời đại và giai cấp, nên đã khoe khoang quá
thế lực của giai cấp thống trị. Tác giả cho rằng dù là cuộc đấu tranh phản
kháng dũng cảm nhất, triệt để nhất, cũng không hay thoát được lưới thống trị
ấy. Ở một mức nhất định, tác giả đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng chính
thống phong kiến, tư tưởng định mệnh, tìm không được lối thoát, nên chỉ xếp
đặt được kết cục như thế.
Việc đại náo thiên cung chỉ chiếm bảy hồi trong một trăm hồi của “Tây
Du Ký”, nhưng đây là bảy hồi sáng láng, rực rỡ, thể hiện được đầy đủ tinh
thần phản kháng triệt để và lý tưởng cách mạng của nhân dân.
“Tây Du Ký”, từ bẩy hồi đầu trở đi, lại chuyển vào chuyện đi lấy kinh.
Xét theo sự phát triển của chuyện, đấy là một bước ngoặt. Ở đây, việc đi lấy
kinh đại biểu cho sự lần mò đi tìm một lý tưởng; phản ánh nguyện vọng
mãnh liệt của nhân dân mưu toan tìm cách thoát khỏi hiện thực khổ cực.
Việc đi lấy kinh là sự kiện trung tâm của các sách “Thú kinh thi thoại”, “Thú
kinh tạp kịch”, tác giả “Tây Du Ký” lợi dụng việc ấy làm một đường dây để
miêu tả việc khắc phục tám mươi mốt tai nạn. Việc đi lấy kinh được coi là
mục đích của tác phẩm, vốn là một cái gì cực kỳ mờ ảo; cái được tác giả mô
tả chủ yếu lại là những cuộc chiến đấu khẩn trương, quyết liệt để đạt tới mục
đích ấy. Những cuộc chiến đấu này thật thiết thực, rõ ràng, một bước là một
in vết chân. Ở trong sự miêu tả thực tế của tác phẩm, mục đích đi lấy kinh ấy
khác xa, không trọng yếu bằng sự nỗ lực lớn lao phải bỏ ra để đạt tới mục
đích ấy. Vì thế, chúng ta cần phân tích ý nghĩa tư tưởng của chuyện đi Tây
Thiên lấy kinh; trọng điểm phải đặt vào sự đấu tranh của bọn Tôn Ngộ
Không vì muốn đến được Tây Thiên, đã phải đấu tranh với bao nhiêu yêu ma
quỷ quái trên đường đi.
Trong quá trình đi Tây Thiên lấy kinh, Tôn Ngộ Không đã đấu tranh để
quét trừ bọn yêu ma. Ý nghĩa hiện thực của cuộc đấu tranh trong thế giới
tưởng tượng ấy là ở chỗ: tuy biết tự mình không lật đổ được sự thống trị tối
cao của vương triều phong kiến, nhưng cứ phải tiếp tục tiến hành đấu tranh
để bừa sạch những thế lực tàn ác của vương triều phong kiến đương tác yêu
tác quái, trực tiếp tàn hại nhân dân trong xã hội.
Tôn Ngộ Không ra không thoát được tay phật Như Lai, bị chặn ở dưới núi
Ngũ Hành, cái đó tượng trưng sự thất bại của cuộc đấu tranh phản kháng
triệt để. Nhưng thiên đình cũng đã phải nếm đủ mọi sự lợi hại của “lão Tôn”.
Biết rằng “lão Tôn” không phải là người thích sinh sự, nên thiên đình đã thỏa
hiệp và nhượng bộ đối với Tôn Ngộ Không. Trên đường đi lấy kinh, để
chống lại sự phản kháng của Tôn, đã có cái “khấn cô nhi” trùm lên đầu Tôn,
nó tượng trưng cho thế lực thống trị. Nhưng Tôn Ngộ Không lại không đầu
hàng thiên đình, trở thành dứa đầy tớ cho Phật tổ, Ngọc Hoàng, để cho bọn
ấy sai khiến. Trái lại, Tôn lại đòi sơn thần, thổ địa, tứ hải long vương, công
tào, trực nhật, thiên binh, thiên tướng phải để cho mình sai khiến; thậm chí
cả Phật tổ, Ngọc Hoàng cũng phải phục vụ Tôn. Để đấu phép với yêu ma,
Tôn Ngộ Không lại đòi Ngọc Hoàng cho mượn trời để đóng cửa độ nửa giờ,
và đánh tiếng rằng: “Nếu hé nửa tiếng “không”, thì lập tức lên điện Linh
Tiêu dấy binh đao”. Ngọc Hoàng chỉ còn biết y theo thôi (hồi thứ 33). Tiếp
xúc với thần, phật, Tôn đều có thái độ khinh miệt mà giễu cợt trêu đùa họ. Ví
như ở hồi thứ 51 lúc đi qua núi Kim Đâu, Tôn Ngộ Không đấu phép với con
tỷ quái, bị mất gậy bịt vàng; Tôn Ngộ Không biết con tỷ quái nhất định là vị
hung tinh nào đó ở trên trời xuống hạ giới để tác quái, liền đi tìm Ngọc
Hoàng “hỏi tội cai quan không nghiêm “. Một khi gặp Ngọc Hoàng, Tôn
Ngộ Không liền hướng tới chào to mà rằng: “Chào lão quan, phiền ngài!
Phiền ngài!”. Khi gặp Phật tổ, Tôn liền đem ngay Phật ra làm trăm thứ trò
cười. Ví như ở hồi thứ: 77, khi qua động Sư Đà, núi Sư Đà, gặp ba con ma
độc ác, Ngộ Không tìm được phật Như Lai, nói với Phật rằng: “Bạch Như
Lai, tôi thấy người ta nói giống yêu kia có họ với Phật đấy!”. Lại nói: “Bạch
Như Lai, nếu so thứ bậc ra, thì người lại là cháu ngoại yêu tinh kia đấy”. Tôn
không nể nang chút nào, lột mặt nạ những kẻ gọi là tôn qui thống trị ở trên
trời, đem chúng ra làm trò cười, trêu giễu chúng, đùa cợt chúng, ở Tôn Ngộ
Không thật tuyệt nhiên không có bóng dáng “mặt đầy tơ, chân con hầu”, cúi
luồn nịnh hót. Ở trước mặt thần, phật, Tôn luôn luôn giữ thái độ ngạo nghễ
anh hùng. Việc đó biểu hiện khái quát tinh thần bất khuất của nhân dân lao
động trong xã hội phong kiến nước ta, tha thiết yêu tự do, không cam chịu
bất cứ sự áp bức nào, luôn tuôn ngạo nghễ đối với giai cấp thống trị phong
kiến. Việc đấu tranh của Tôn Ngộ Không trên đường đi lấy kinh là kế tục
việc đấu tranh của Tôn khi đại náo thiên cung, có điều là phạm vi đấu tranh
có hạn chế; phương thức và phương pháp đấu tranh có thay đổi.
Trên đường đi lấy kinh, Tôn Ngộ Không đã mở rộng cuộc đấu tranh
ngoan cường với bọn yêu ma. Những yêu ma tưởng tượng này phản ánh một
hiện thực đương thời là những thế lực hung ác của phong kiến. Bọn ấy đều
trục tiếp cấu kết với giai cấp thống trị thượng tầng. Như Hoàng Bào lão yêu
là Khuê Mộc Lang tinh ở trên trời; Kim Giác đại vương, Ngân Giác đại
vương ở núi Bình Đính là hai đồng tử trông coi lò thuốc của Thái Thượng
lão quân; Độc Giác Tỷ đại vương ở động Kim Đâu là con trâu xanh của Thái
Thượng Lão quân v.v... Tôn Ngộ Không, với trí tuệ vô cùng, dũng cảm phi
thường, đã chiến đấu ngoan cường, để chiến thắng dần dần từng đứa một, đã
rẫy sạch những thế lực hung ác tàn hại nhân dân. Đó chính là thiện đã chiến
thắng ác, sáng đã chiến tối, phản ánh rõ nguyện vọng của nhân dân. Thứ nữa,
những thần quái yêu ma trong “Tây Du Ký” không những là thể hiện một số
lực lượng xã hội mà cũng thể hiện một số lực lượng thiên nhiên đã nhân cách
hóa; cả hai thường không tách rời nhau. Tôn Ngộ Không, trong truyện đi lấy
kinh, không những đã thể hiện lý tưởng của nhân dân lao động chiến thắng
thế lực hung ác của xã hội trong cuộc đấu tranh giai cấp mà lại cũng đã thể
hiện lý tưởng của nhân dân lao động chiến thắng tự nhiên, chinh phục tự
nhiên trong cuộc đấu tranh sản xuất. Còn như bọn Ngọc Hoàng, Long
Vương, Diêm Vương trên vương quốc, thần trên trời chẳng những là bóng
tối của kẻ thống trị phong kiến trong xã hội hiện thực, mà cũng là chúa tể
của sức tự nhiên đã được thần hóa trong tưởng tượng của người. Tôn Ngộ
Không đã chiến thắng những thần quái yêu ma ấy cũng chính là Tôn đã
chiến thắng được thiên nhiên thường gây ra tai họa...
... Trong toàn bộ sách, tính cách của Tôn Ngộ Không đã giữ được tính
thống nhất. Đi Tây Thiên lấy kinh là tính cách của Tôn phát triển tiến lên
một bước, chứ nhất định không phải là phủ định tinh thần phản kháng khi đại
náo thiên cung. Tôn Ngộ Không thủy chung vẫn là một kẻ anh hùng đã được
lý tưởng hóa cao độ. Tôn không sợ trời, không sợ đất. Tôn có tinh thần chiến
đấu phản kháng hết thảy sự áp bức của thống trị, kiên quyết khắc phục hết
thảy các khó khăn; có trí tuệ và sức mạnh vô cùng; có phẩm chất cao quí, chí
công vô tư, tha thiết yêu anh em, đồng tình và giúp đỡ những kẻ nhỏ yếu bị
hại. Tất cả những cái đó đều lả cái mà nhân dân lao động vốn có, đồng thời
lại là cái đã được lý tưởng hóa đến cao độ.
Cái tinh thần phản kháng, ngạo nghễ, bất khuất, đánh đổ hết thẩy của Tôn
Ngộ Không là nhằm vào giai cấp thống trị phong kiến mà chĩa mũi nhọn,
điều đó có ý nghĩa tiến bộ rất lớn. Tính cách của Tôn là tích cực, hình tượng
của Tôn mãi mãi được thiếu niên nhi đồng yêu thích, rất có tác dụng đến sự
hình thành tính cách của các em. Chúng ta phải giải thích chính xác cho các
em hiểu rõ điều kiện lịch sử đã sản sinh ra hình tượng đó và vận dụng một
cách đúng đắn hình tượng đầy màu sắc thần kỳ này trong văn học cổ điển
nước ta, để giúp cho thiếu niên nhi đồng của chúng ta phát triển ý chí không
sợ khó khăn, ngoan cường đấu tranh để kiến thiết Tổ quốc, bảo vệ Tổ quốc.
Trong “Tây Du Ký” Ngô Thừa Ân, ngoài việc sáng tạo ra hình tượng rực
rỡ Tôn Ngộ Không, lại còn sáng tạo thành công hình tượng Trư Bát Giới.
Tính cách của Trư Bát Giới rõ và nổi lạ thường, gieo cho ta có một cảm giác
thực, mạnh mẽ. Sở dĩ chú...
 





