DANH NGÔN HAY

Theo tâm lý học, giữ im lặng không có nghĩa là bạn không có gì để nói, mà là bạn cho rằng họ chưa sẵn sàng để nghe suy nghĩ của bạn. - Khuyết Danh

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    BẢN TIN HÔM NAY

    Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z6522676591609_b3e220003660ce9886025cb13cd6e2c4.jpg Z6522677129001_17bd516d35a011319452a82197a3aa73.jpg Z6522677286602_b13ed08e2998a1b6aa9910ee881109d7.jpg Z6525839992969_6faa64b79d12133b30a6be09333c5fe5.jpg Z6522677277438_440ab32a671b5e99abb2b9aed75d5c32.jpg Z6522676894451_54bbe0164d862e9e7964e7c2cf8d3bfb.jpg Z6522666617591_24680573b313b2baec1c521b4c60396a.jpg Z6522666570038_2168275e97cf6625d777fac458ce428a.jpg Z6522666545919_91e1eedd56a040b4859d86787b11d179.jpg Z6522666535329_72be407fee4a8d60558e6d779134523c.jpg Z6522666523051_d64865c4feada596bab0d1461be81b4a.jpg Z6522666394947_7045ae98392b026ee38c2bebf4fdf07f.jpg Z6522666404399_cea6f503563075330893134b01a1c8ef.jpg Z6522666410186_de8ccd7cd52da73b72a027e645127e36.jpg Z6522666432361_108e04e8938d2911413f6c50550fa418.jpg Z6399458934835_e3020adc140a1d52f3ff1d736da89bb6.jpg Z6170081214203_5d91029c28dcd8e5fbdb451d75abc93a.jpg HS_dang_tim_doc_sach_tai_kho_mo.jpg HS_dang_tim_doc_sach_tai_kho_mo_3.jpg HS_dang_tim_doc_sach_tai_kho_mo_1.jpg

    SÁCH ĐIỆN TỬ - SÁCH BÁC HỒ

    LIÊN KẾT LIÊN THƯ VIỆN

    💕💕 Bước vào thư viện, ta không chỉ chạm vào những trang sách mà còn chạm vào tâm hồn của những vĩ nhân vĩ đại nhất💕💕

    Ý nghĩa của sách trong cuộc sống

    Tây du ký - Ngô Thừa Ân

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Thẩm
    Ngày gửi: 18h:00' 11-03-2024
    Dung lượng: 5.5 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Mục lục
    LỜI NÓI ĐẦU
    TÀI LIỆU CỦA BỘ BIÊN TẬP NHÀ XB NHÂN DÂN VĂN HỌC
    BẮC KINH BÀN VỀ TÂY DU KÝ
    I. ĐỜI SỐNG TƯ TƯỞNG CỦA NGÔ THỪA ÂN VÀ
    NGUỒN GỐC “TÂY DU KÝ”
    II. Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG CỦA “TÂY DU KÝ”
    III. THÀNH CÔNG VỀ NGHỆ THUẬT CỦA – “TÂY DU
    KÝ”
    HỒI THỨ NHẤT
    HỒI THỨ HAI
    HỒI THỨ BA
    HỒI THỨ BỐN
    HỒI THỨ NĂM
    HỒI THỨ SÁU
    HỒI THỨ BẢY
    HỒI THỨ TÁM
    HỒI THỨ CHÍN
    HỒI THỨ MƯỜI
    HỒI THỨ MƯỜI MỘT
    HỒI THỨ MƯỜI HAI
    HỒI THỨ MƯỜI BA
    HỒI THỨ MƯỜI BỐN
    HỒI THỨ MƯỜI LĂM
    HỒI THỨ MƯỜI SÁU
    HỒI THỨ MƯỜI BẢY
    HỒI THỨ MƯỜI TÁM
    HỒI THỨ MƯỜI CHÍN
    HỒI THỨ HAI MƯƠI
    HỒI THỨ HAI MƯƠI MỐT
    HỒI THỨ HAI MƯƠI HAI
    HỒI THỨ HAI MƯƠI BA
    HỒI THỨ HAI MƯƠI BỐN
    HỒI THỨ HAI MƯƠI LĂM
    HỒI THỨ HAI MƯƠI SÁU
    HỒI THỨ HAI MƯƠI BẢY
    HỒI THỨ HAI MƯƠI TÁM
    HỒI THỨ HAI MƯƠI CHÍN
    HỒI THỨ BA MƯƠI

    HỒI THỨ BA MƯƠI MỐT
    HỒI THỨ BA MƯƠI HAI
    HỒI THỨ BA MƯƠI BA
    HỒI THỨ BA MƯƠI TƯ
    HỒI THỨ BA MƯƠI LĂM
    HỒI THỨ BA MƯƠI SÁU
    HỒI THỨ BA MƯƠI BẢY
    HỒI THỨ BA MƯƠI TÁM
    HỒI THỨ BA MƯƠI CHÍN
    HỒI THỨ BỐN MƯƠI
    HỒI THỨ BỐN MƯƠI MỐT
    HỒI THỨ BỐN MƯƠI HAI
    HỒI THỨ BỐN MƯƠI BA
    HỒI THỨ BỐN MƯƠI TƯ
    HỒI THỨ BỐN MƯƠI LĂM
    HỒI THỨ BỐN MƯƠI SÁU
    HỒI THỨ BỐN MƯƠI BẢY
    HỒI THỨ BỐN MƯƠI TÁM
    HỒI THỨ BỐN MƯƠI CHÍN
    HỒI THỨ NĂM MƯƠI
    HỒI THỨ NĂM MƯƠI MỐT
    HỒI THỨ NĂM MƯƠI HAI
    HỒI THỨ NĂM MƯƠI BA
    HỒI THỨ NĂM MƯƠI TƯ
    HỒI THỨ NĂM MƯƠI LĂM
    HỒI THỨ NĂM MƯƠI SÁU
    HỒI THỨ NĂM MƯƠI BẢY
    HỒI THỨ NĂM MƯƠI TÁM
    HỒI THỨ NĂM MƯƠI CHÍN
    HỒI THỨ SÁU MƯƠI
    HỒI THỨ SÁU MƯƠI MỐT
    HỒI THỨ SÁU MƯƠI HAI
    HỒI THỨ SÁU MƯƠI BA
    HỒI THỨ SÁU MƯƠI TƯ
    HỒI THỨ SÁU MƯƠI LĂM
    HỒI THỨ SÁU MƯƠI SÁU
    HỒI THỨ SÁU MƯƠI BẢY
    HỒI THỨ SÁU MƯƠI TÁM
    HỒI THỨ SÁU MƯƠI CHÍN
    HỒI THỨ BẢY MƯƠI
    HỒI THỨ BẢY MƯƠI MỐT

    HỒI THỨ BẢY MƯƠI HAI
    HỒI THỨ BẢY MƯƠI BA
    HỒI THỨ BẢY MƯƠI TƯ
    HỒI THỨ BẢY MƯƠI LĂM
    HỒI THỨ BẢY MƯƠI SÁU
    HỒI THỨ BẢY MƯƠI BẢY
    HỒI THỨ BẢY MƯƠI TÁM
    HỒI THỨ BẢY MƯƠI CHÍN
    HỒI THỨ TÁM MƯƠI
    HỒI THỨ TÁM MƯƠI MỐT
    HỒI THỨ TÁM MƯƠI HAI
    HỒI THỨ TÁM MƯƠI BA
    HỒI THỨ TÁM MƯƠI TƯ
    HỒI THỨ TÁM MƯƠI LĂM
    HỒI THỨ TÁM MƯƠI SÁU
    HỒI THỨ TÁM MƯƠI BẢY
    HỒI THỨ TÁM MƯƠI TÁM
    HỒI THỨ TÁM MƯƠI CHÍN
    HỒI THỨ CHÍN MƯƠI
    HỒI THỨ CHÍN MƯƠI MỐT
    HỒI THỨ CHÍN MƯƠI HAI
    HỒI THỨ CHÍN MƯƠI BA
    HỒI THỨ CHÍN MƯƠI TƯ
    HỒI THỨ CHÍN MƯƠI LĂM
    HỒI THỨ CHÍN MƯƠI SÁU
    HỒI THỨ CHÍN MƯƠI BẢY
    HỒI THỨ CHÍN MƯƠI TÁM
    HỒI THỨ CHÍN MƯƠI CHÍN
    HỒI THỨ MỘT TRĂM

    LỜI NÓI ĐẦU

    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
    “Tây Du Ký”, tiểu thuyết của Ngô Thừa Ân, một pho tiểu thuyết kiệt xuất
    trong văn học Trung Quốc, dài một trăm hồi, chia làm 3 tập.
    Bộ tiểu thuyết này dịch theo bản chữ Trung Quốc do “Tác giả xuất bản xã
    Bắc Kinh” ấn hành năm 1957. Những tài liệu bàn về chủ đề và nhân vật Tây
    Du Ký, nhận định về giá trị bộ tiểu thuyết này của các nhà văn và nhà phê
    bình Trung Quốc do Bộ Biên tập Nhà xuất bản Nhân dân văn học Bắc Kinh
    ấn hành.
    Với bản dịch này, trong tình hình hiện tại, chúng tôi cũng chỉ dám coi là
    một tài liệu công phu để giúp hạn đọc tham khảo, bởi vì theo chúng tôi nó
    vẫn còn nhiều chỗ cần bàn.
    Tranh bìa và tranh minh họa, chúng tôi chụp lại trong những tập sách
    tranh vẽ truyện Tây Du của Nhà xuất bản “Nhân dân Mỹ thuật Thượng Hải”
    ấn hành năm 1956.
    Trong quá trình tuyển chọn một bản dịch thật hoàn hảo, lần in này chúng
    tôi xin giới thiệu bản dịch của Thụy Đình do nhà nghiên cứu Chu Thiên hiệu
    đính.
    Chúng tôi rất mong được sự đóng góp của bạn đọc.
    NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC

    TÀI LIỆU CỦA BỘ BIÊN TẬP NHÀ XB NHÂN DÂN
    VĂN HỌC BẮC KINH BÀN VỀ TÂY DU KÝ

    I. ĐỜI SỐNG TƯ TƯỞNG CỦA NGÔ THỪA ÂN VÀ
    NGUỒN GỐC “TÂY DU KÝ”
    “Tây Du Ký” là một bộ tiểu thuyết thần thoại trường thiên, lãng mạn tích
    cực rất vĩ đại. Quá trình ra đời của bộ truyện này cũng giống như “Tam quốc
    diền nghĩa” và “Thủy Hử”: gốc gác của truyện đã lưu truyền lâu dài trong
    dân gian từ trước; sau đó một hoặc vài tác gia dựa trên cơ sở sáng tác tập thế
    của nhân dân; lại sáng tạo thêm thành sách.
    Song căn cứ vào tài liệu hiện có mà xét thì truyện “Tam Quốc diễn nghĩa”
    và “Thủy Hử”, trước khi thành sách đã có đầy đủ về qui mô kết cấu trên đại
    thể. Còn “Tây Du Ký” thành được sách chủ yếu là do tác giả Ngô Thừa Ân
    sáng tạo ra: “Tây Du Ký” được đúc kết bởi sự lao động sáng tạo lớn lao của
    tác giả.
    Ngô Thừa Ân (1500 (?) tên tự là Nhũ Trung, tên hiệu là Xa Dương sơn
    nhân, là người ở huyện Sơn Âm, phủ Hoài An (nay là huyện Hoài An, tỉnh
    Giang Tô). Ông sinh trong một gia đình quan lại cấp dưới lưu lạc sa sút
    thành tiểu thương. Cha tên là Ngô Nhuệ, một tiểu thương bán “chỉ màu vải
    hoa”, rốt ham đọc sách, “từ lục kinh đến bách gia chư tử không sách nào là
    không xem” (Ngô Thừa Ân: “Bài minh của mộ chí Tiên phú quân”). Ngô
    Thừa Ân từ lúc thiếu niên, văn chương đã nổi tiếng nhất làng. Trong bài “Xạ
    Dương tiên sinh tồn cáo bạt” của Ngô Quốc Vinh có nói: “Xạ Dương tiên
    sinh khi còn để trái đào, văn chương đã có tiếng đồn ở vùng sông Hoài.
    Những người đến thăm, đến chơi, xin bài, hỏi chữ, luôn luôn không ngớt”…
    Sách Hoài An phú chi của Thiên Khải có nói về ông: “Ông tinh lanh lẹ,
    thông minh, xem rộng hết các sách; khi làm văn thơ, hạ bút là thành bài;
    thanh nhã tươi đẹp, có phong cách như Tân Thiếu Du. Ông lại giỏi hài kịch,
    viết được một số vở nổi tiếng một thời”. Nhưng ở cái thời đại kén người
    bằng lối văn bát cổ, một người trí thức có tài năng như thế, đành “lận đận

    mãi nơi trường ốc”, mãi đến năm 45 tuổi, ông mới thi đậu được chức tuế
    cống sinh. Ông đã lên kinh dự tuyển, vì thân phận là người khách lạ Bắc
    Kinh nên đã nếm đủ mùi lạnh nhạt của phố phường. Sau bởi mẹ già nhà khổ,
    ông miễn cưỡng phải ra nhận chức thừa ở huyện Trường Hưng. Nhận chức
    được một hai năm, ông “thẹn nỗi khom lưng, rũ áo ra về”. Sau ông lại đến
    Kim Lăng (Nam Kinh) tìm việc, nhưng vẫn không thi thố được gì. Lúc già,
    ông quay về làng rượu, thơ vui thú, làm công việc sáng tác văn học. Ông ở
    nhà được hơn mười năm thì qua đời. Tiểu thuyết “Tây Du Ký” áng chừng
    viết lúc tuổi già, thời kỳ ông ở quê nhà. Sáng tác của Ngô Thừa Ân rất nhiều,
    nhưng vì nhà nghèo, lại không có con nối dòng, nên một bộ phận lớn sáng
    tác của ông đều bị mất mát cả. Tác phẩm hiện còn, trừ “Tây Du Ký” ra, còn
    có bốn quyển “Xạ dương tiên sinh tồn cáo” do người sau góp nhặt lại được.
    Ngô Thừa Ân xuất thân ở một gia đình sĩ hoạn sa sút, lưu lạc thành tiểu
    thương. Tiểu thương hồi đó không có địa vị xã hội. Ông đã ghi thuật trong
    bài minh của mộ chí Tiên phủ quân về tình cảnh nhà ông luôn bị quan lại
    dọa nạt. Do bị tư tưởng phong kiến trói buộc, tuy ông đã hết sức viết về phụ
    thân mình cho thành người dân lành an phận trong xã hội đương thời, nhưng
    cũng không che đậy nổi sự tức giận đối với hiện thực đen tối, Phụ thân ông
    “thích bàn chuyện thời thế, hễ điều gì bất bình thì vỗ ghế tức giận, thái độ
    hằm hằm”, đó chính là phản ánh người tiểu thương lúc ấy, bị giai cấp phong
    kiến thống trị đè nén về mặt chính trị và mặt kinh tế.
    Tư tưởng của Ngô Thừa Ân trên cơ bản vẫn là tư tưởng nhà nho truyền
    thống, chủ trương làm điều vương đạo, hết lẽ vua tôi, cái xã hội mà ông
    mộng tưởng là cái xã hội Tam đại, lưỡng Hán đã lý tưởng hóa. Bài phú
    “Minh Đường” của ông là một bài ca tụng giai cấp thống trị phong kiến, còn
    thì khá nhiều thơ ca, nhất là văn xuôi của ông, cũng đều có ý thức phong
    kiến khá đậm. Nhưng cũng bởi địa vị xã hội của người tiểu thương, bởi
    đường khoa cử lận đận, nên cái hố ngăn cách giữa ông và bọn thống trị
    phong kiến ngày càng to. Nhờ kinh nghiệm thiết thân nên ông càng ngày
    càng nhận rõ hơn cái hiện thực đen tối của xã hội hồi đó. Qua một số thơ của
    ông có thể thấy được tính cách của ông là sốt sắng yêu tự do, hào phóng,
    không câu thúc. Ở dưới sự thống trị phong kiến đen tối và nghiệt ngã của
    triều Minh, ông căm ghét chủ nghĩa chuyên chế. Ở dưới sự chỉ đạo của tư

    tưởng nho gia truyền thống, ông có hoài bão về chính trị, hy vọng làm nên sự
    nghiệp một phen; nhưng trước cái hiện tượng xã hội “hàng ngũ ngày thưa,
    thuế dịch ngày nặng, cơ giới ngày nhiều, thói quen gian trá ngày càng đua
    nhau” (bài tự tặng Vệ Hầu Chương Quân đi nhậm) khiến ông không thể
    không thốt ra lời cảm thán “phong tục lâu nay ta không nỡ nói rõ!” (bài tự
    tiễn Quận bá là Thiệu Cố Ngu được bổ đi làm hiến phó tỉnh Sơn Đông). Từ
    đấy sự bất mãn mạnh mẽ đối với hiện thực càng làm mạnh thêm chí lớn giúp
    thời sửa thế của ông. Trong bài ca ở tranh “Nhị Lang tìm núi”, ông đã nói:
    “... Binh thần săn tà và săn muông thú; dò tận hang, phá cả tổ, không còn sót
    một con nào. Uy thế lúc bình sinh nay ở đâu? Nanh vuốt tuy còn, dám rong
    ruổi nhung nhăng chăng!... Người ở nơi đồng nội có hoài bão, cảm kích
    nhiều, thấy việc, ở trước gió thở dài ba cái. Ở trong bụng đã mài mòn đao
    chém tà, muốn vùng dậy, nhưng giận rằng không có sức. Cứu mặt trăng có
    tên, cứu mặt trời có cung, ở thế gian há bảo không có kẻ anh hùng? Ai hay
    đưa lại cho ta những người tài hiếm như con lân, con phượng để khiến cho
    mãi mãi muốn nắm giữ được cái công trừ giặc yên dân...”.
    Ông đem thế lực hung ác, tàn hại nhân dân ở trong xã hội ví với các quỉ
    quái Lị, Mị, Võng, Lượng; nêu rõ giai cấp thống trị là nguồn gốc tai nạn của
    nhân dân. Ông muốn dùng “đao chém tà” để tiêu diệt những bọn hề ấy,
    nhưng “muốn vùng dậy dẹp chúng mà giận rằng không có sức”. Lý tưởng
    không thực hiện được, thế là nỗi căm giận hiện thực đen tối, cái nhiệt tình
    giúp thời sửa thế, trừ bạo an dân của ông liền phát sinh và thể hiện rõ trong
    “Tây Du Ký”.
    Ngô Thừa Ân lúc còn bé, thích những chuyện thần thoại. Lúc đứng tuổi,
    ông đã căn cứ vào truyện thần thoại dân gian viết một bộ tiểu thuyết ma quái
    tên là “Vũ Đình Chí”. Tiếc rằng bộ ấy thất truyền, chỉ còn bài tựa. Trong bài
    tựa nói: “Ta lúc bé đã thích chuyện lạ. Lúc ở trường xã, học trẻ con, thường
    mua trộm những truyện vặt, dã sử, nhưng sợ cha và thầy mắng, phải tìm chỗ
    kín để đọc. Khi lớn lên, thích càng nhiều, nghe càng lạ. Đến lúc đã ba mươi
    tuổi, tìm tòi mua kiếm các sách, truyện, cơ hồ chứa đầy trong bụng... Tuy
    sách của ta tên là sách ma quái, nhưng không chuyên nói về ma quỷ, thỉnh
    thoảng cũng chép những biến dị ở nhân gian là có ý khuyên răn ngụ ở trong
    ấy...”

    Ngô Thừa Ân không những thuộc nhiều chuyện thần thoại, dùng đề tài
    thần thoại viết ra được thành công, mà còn định rõ được ý muốn của sáng
    tác, hy vọng thông qua tác phẩm để đạt mục đích giáo dục xã hội, chứ không
    phải chỉ là viết để viết.
    Có khuynh hướng tư tưởng tiến bộ, lại giỏi vận dụng đề tài phong phú
    của truyền thuyết thần thoại nên Ngô Thừa Ân sáng tạo ra được “Tây Du
    Ký”, pho tiểu thuyết thần thoại trường thiên, lãng mạn tích cực vĩ đại như
    thế.
    Nhưng “Tây Du Ký” lại không phải do riêng cá nhân Ngô Thừa Ân sáng
    tác ra. Gốc gác câu truyện đã lưu truyền rộng rãi ở dân gian và không ngừng
    diễn biến, đã từ lâu trước khi có Ngô Thừa Ân.
    Muốn khảo sát nguồn gốc “Tây Du Ký”, phải ngược lại những năm đầu
    nhà Đường. Năm thứ 2 niên hiệu Trinh Quán (628), có một vị sư thanh niên
    là Huyền Trang không sợ gian nan hiểm trở, một mình sang Thiên Trúc (Ấn
    Độ) lấy kinh. Ông đi lâu đến 17 năm, qua hơn năm mươi nước, trải hết trăm
    cay nghìn đắng, chín phần chết một phần sống, cuối cùng mang về được 657
    bộ kinh. Lúc bấy giờ, giao thông chua phát đạt, giữa nước này với nước kia
    sự giao thiệp không thân mật thì Huyền Trang sang Thiên Trúc thật là một
    việc kinh người.
    Việc từng trải trên đường dài, việc sinh sống ở nước khác trong hơn 10
    năm của ông không những làm cho mọi người thán phục, mà còn đem lại
    cho mọi người một nguồn tưởng tượng phong phú. Thêm vào đấy, tín đồ đạo
    Phật muốn mở rộng ảnh hưởng dạo mình, nên cố ý tô vẽ thêm vào câu
    chuyện Huyền Trang đi lấy kinh, cho nên chuyện Huyền Trang đi lấy kinh,
    bắt đầu từ lúc học trò ông là Tuệ Lập viết ra quyển truyện ký “Đại Đường Từ
    Ân tự Tam Tạng pháp sư truyện” liền có đủ màu sắc thần bí của tôn giáo.
    Những truyện ấy được thần kỳ hóa lại chính là bắt đầu từ sau khi nó được
    lưu hành ở trong dân gian. Được lưu hành trong dân gian nó thành sở hữu
    của nhân dân. Nhân dân lao động xuất phát từ hứng thú nghệ thuật của bản
    thân mình, lại dựa vào nguyện vọng của mình, đã làm cho câu chuyện phát
    triển phong phú thêm lên. Câu chuyện dần dần tách khỏi lịch sử Huyền
    Trang đi lấy kinh để mỗi ngày một diễn biến kỳ lạ...

    ... Chuyện Đường Tăng đi lấy kinh, trong quá trình lưu truyền mấy trăm
    năm, đã dần dần được thêm thắt phong phú lên. Đến tay Ngô Thừa Ân, trải
    qua những sự lấy bỏ, thêm bớt, sáng tạo, mới thành ra một tác phẩm nghệ
    thuật vĩ đại như thế.
    Sự sáng tạo lớn lao của Ngô Thừa Ân, chủ yếu biểu hiện ở ba mặt dưới
    đây:
    1. Cứ theo sự kết cấu và tình tiết truyện mà xét, tác giả đem mấy truyện
    đã có sẵn, nối liền chúng lại với nhau một cách khéo léo rồi tô điểm, mở
    rộng, sửa đổi và gán vào trong sáng tác của mình, khiến chúng xoay quanh
    chủ đề, trở nên một khối hoàn chỉnh. Nhờ ở sự ham thích thần thoại và óc
    tưởng tượng của mình, ông còn sáng tạo ra một số truyện khác dung hợp với
    chuyện có sẵn trong dân gian.
    2. Xét trên mặt tư tưởng chủ đề, ông đã cải tạo và nâng cao câu chuyện đi
    lấy kinh vẫn lưu truyền trong dân gian, bồi bổ cho nó một ý nghĩa mới, khiến
    cho nó có một chủ đề rõ ràng và một tính khuynh hướng mạnh mẽ. Tác giả
    lại căn cứ vào sự quan sát và sự nhận xét của mình đối với hiện thực, mà tiến
    hành phê phán xã hội một cách sâu rộng.
    3. Xét về mặt xây dựng hình tượng nghệ thuật, nhân vật trong truyện đi
    lấy kinh trước kia phần lớn chỉ là thô sơ, không có cá tính rõ rệt. Mà điều
    đáng chú ý là qua bản thân các nhân vật đó, ta không thấy khái quát được
    phần nào bản chất của lực lượng xã hội. Trải qua sự sáng tạo thiên tài của
    Ngô Thừa Ân, hình tượng sáng ngời, bất hủ của Tôn Ngộ Không mới được
    gọt rũa nên. Tôn Ngộ Không giữ một địa vị rất chủ yếu trong “Tây Du Ký”;
    ở Tôn không những có đủ cá tính rõ rệt, mà còn khái quát sâu sắc được nội
    dung xã hội. Nhờ đó mà “Tây Du Ký” đã hoàn thành được sự thay đổi về
    chất, đã từ một bộ truyện của các tín đồ tôn giáo trở thành một tác phẩm
    dùng đề tài thần thoại viết thành truyền kỳ của nhân dân anh hùng.
    Có thể nói như thể này: không có truyện đi lấy kinh của dân gian, thì
    không thể có “Tây Du Ký” của Ngô Thừa Ân; không có sáng tạo gia công
    thiên tài của Ngô Thừa Ân thì “Tây Du Ký” cũng không thể hoàn chỉnh
    được như thế, không thể đạt được đích cao về tư tưởng và nghệ thuật như
    thế.

    II. Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG CỦA “TÂY DU KÝ”
    “Tây Du Ký” là một bộ tiểu thuyết thần thoại trường thiên vĩ đại. Truyện
    rạng rỡ chủ yếu trên hình tượng nghệ thuật Tôn Ngộ Không. Tôn Ngộ
    Không là hình tượng anh hùng lý tưởng rất giàu màu sắc thần kỳ, tỏa sáng ra
    bốn phía trong phòng tranh văn học cố điển nước ta.
    Tôn Ngộ Không là đứa trẻ của tự nhiên, đứa trẻ từ một khối đá tiên sinh
    đẻ ra. Nó nhờ ở dũng cảm và trí tuệ của mình mà làm chúa đàn khỉ ở động
    Thủy Liêm, núi Hoa Quả. Tác giả tả động Thủy Liêm, núi Hoa Quả được
    mười phần tươi đẹp như là một lạc viên lý tưởng. Một bầy khỉ ở trong
    khoảng trời đất, tự do tự tại, “không chịu kỳ lân trông coi, không chịu
    phượng hoàng cai quản, cũng không chịu vua ở nhân gian ràng buộc”.
    Nhưng Tôn Ngộ Không lại phải chịu sự quản thúc của vua Diêm Vương; vận
    mệnh của Tôn lại không phải do chính Tôn nắm lấy được. Đối với một việc
    không thể nào chịu được ấy, Tôn Ngộ Không bèn rèn luyện tài nghệ của
    mình, náo động long cung, lấy của Đông Hải long vương cái gậy gọi là “gậy
    như ý bịt vàng trấn đáy sông trời” nặng 13.500 cân, múa gậy đánh xuống âm
    phủ “làm cho quỷ đầu trâu kia sợ phải trốn đông trốn tây, quỷ mặt ngựa kia
    sợ phải chạy nam chạy bắc”. Ngay cả vua Diêm Vương cũng sợ phải phải
    lên tiếng xin thượng tiên cho biết tên!”, phải đem số sinh tử ra để Tôn Ngộ
    Không xóa bỏ tên tuổi loài khỉ ở trong ấy. Rõ là Tôn Ngộ Không phản kháng
    bất cứ sự áp bách nào, Tôn khiêu chiến một cách táo bạo với số mệnh! Tôn
    Ngộ Không náo động long cung, khuấy rối âm phủ, Long Vương, Diêm
    Vương không làm gì được, đành phải kêu với chúa tể của họ là Ngọc Hoàng,
    kẻ thống trị cao nhất của thế giới thần. Kẻ thống trị ở thiên đình ấy cũng lại
    chẳng cao minh gì hơn Long Vương và Diêm Vương, nhưng biết không thể
    đối phó được với Tôn, bèn bày ra kế đánh lừa Tôn Ngộ Không lên trời. Tôn
    Ngộ Không lên đến thiên đình, với thái độ một người thắng thế, vào yết kiến
    Ngọc Hoàng; Thái Bạch kim tinh hướng vào Ngọc Hoàng lạy, Tôn Ngộ
    Không cứ thẳng người đứng ở cạnh. Đến lúc Ngọc Hoàng hỏi: “Ai là tiên
    yêu quái?” Tôn Ngộ Không chỉ cúi mình trả lời một tiếng là: “Chính lão Tôn
    đây!”. Thái độ ngang tàng của Tôn ở trước mặt Ngọc Hoàng trong thế giới
    thần thoại, đã phản ánh một cách khái quát sự khinh miệt của nhân dân lao

    động đối với sự quyền quí và chế độ đẳng cấp trong xã hội phong kiến, phản
    ánh yêu cầu và nguyện vọng của họ: dân chủ, bình đẳng. Khi Tôn Ngộ
    Không biết rằng việc mình được phong làm “Bật mã ôn” chi là một việc lừa
    dối, Tôn bèn bừng bừng lửa giận, đánh ra cửa Nam Thiên. Thiên đình điều
    binh khiển tướng đến đánh, kết quả bị Tôn Ngộ Không đánh cho tơi bời, tán
    loạn như hoa trôi nước chảy. Từ đấy Tôn Ngộ Không lặng lẽ, dứt khoát dựng
    cờ hiệu, tự xưng là “Tề Thiên Đại Thánh”, chống lại với thiên đình. “Trời” là
    vương quốc của thần, là tượng trưng của thế lực thống trị cao nhất; Tôn Ngộ
    Không lại dựng lên hiệu cờ “Tề Thiên Đại Thánh” việc ấy chứng tỏ rõ ràng
    là Tôn tự coi mình ngang với trời, quyết không chịu sự cai quản của thế lực
    thống trị trên “nước trời”. Tinh thần phản kháng của Tôn Ngộ Không lúc bấy
    giờ so với lúc náo long cung; náo âm phủ lại tiến lên một bước nữa, là dám
    chọi lại với thiên đình. Kẻ thống trị ở trên trời sợ uy lực lớn lao của Tôn Ngộ
    Không, không thể không thừa nhận Tôn là “Tề Thiên Đại Thánh” được. Ấy
    là lần thứ hai trời lừa Tôn Ngộ Không lên thiên quốc. Tôn Ngộ Không ở trên
    thiên cung, vẫn hiềm vì bị người quản thúc, cuộc sống không được tự do,
    cho nên giả ngây giả dại. Không lâu, Tôn lại náo động ngay thiên cung một
    mẻ rối tùng phèng nữa sau đó lại ra khỏi cửa trời. Thiên đình tốn hết sức lực
    mới bắt được Tôn, nhưng không có cách nào giết nổi Tôn. Tôn bị bỏ vào
    trong lò Bát quái của Thái Thượng lão quân đang luyện thuốc. Lò ấy luyện
    được bảy bảy bốn mươi chín ngày; nhân lúc Lão quân mở lò để lấy thuốc,
    Tôn liền nhảy vọt ra, trèo lên trên lò Bát Quái. Lão quân đến bên toan tóm
    bất, bị Tôn xô ngã lộn nhào. Lập tức rút ở trong lỗ tai ra cây gậy như ý, vung
    trước gió, thành cây gậy tròn xoe to bằng cái chén, cứ thế nắm ở trong tay,
    bất biết hay dở, lại đại náo cung trời, đánh cho chín diệu tinh phải đóng chặt
    cửa cổng, bốn thiên vương không còn bóng dáng nữa”. Ghế ngọc của Ngọc
    Hoàng trước mắt cũng lung lay không yên. May sao có Như Lai đến cứu.
    Tôn Ngộ Không bèn nói trắng ra với Như Lai rằng: “Kẻ mạnh là cao quý,
    phải nhường cho ta: anh hùng chỉ thế đấy ai dám tranh hơn!”. Và lại nói:
    “Người ta thường bảo: ngôi hoàng đế luân lưu, sang năm đến lượt ta! Chỉ
    cần bảo với hắn (chỉ Ngọc Đế) dọn đi nơi khác, đem thiên cung nhường cho
    ta là xong, nếu không nhường, nhất định ta đánh phá mãi không yên!”. Đến
    đây, tinh thần phản kháng của Tôn Ngộ Không phát triển lên đến cùng tột,

    không những muốn là “Tề Thiên”, mà lại muốn cướp lấy quyền thống trị của
    thiên đình vào tay mình; đề ra khẩu hiệu phản kháng triệt để nhất lúc bấy giờ
    là lật đổ nền thống trị của Ngọc Hoàng, như thế thật sung sướng biết nhường
    nào! Khí phách hùng vĩ biết nhường nào! Trong chuyện đại náo thiên cung,
    tác giả “Tây Du Ký” đã hết sức kích động tạo nên hình tượng chói lọi của kẻ
    phản kháng triệt để ấy là hình tượng Tôn Ngộ Không. Tôn bạo dạn đi tìm lý
    tưởng, còn dám phá hoại qui củ cũ, không thừa nhận bất cứ uy quyền nào
    của kẻ thống trị vương quốc thần, tin tưởng vào lực lượng của mình, mưu
    nắm hoàn toàn lấy vận mệnh của mình. Tôn dùng sức thần kỳ của mình làm
    náo động tơi bời cả ba giới (trời, bể, đất) hoàn toàn làm rối loạn trật tự của
    vương quốc thần. Thiên đình, cái nơi được coi là thần thánh bất khả xâm
    phạm, đứng trước sự xung kích của lực lượng to lớn của Tôn Ngộ Không, đã
    hoàn toàn bộc lộ cái tướng con hổ già bằng giấy, ngoài thì oai nghiêm mà
    trong thì mềm yếu. Thiên cung của vương quốc thần là tượng trưng cho
    vương triều phong kiến ở nhân gian; Tôn Ngộ Không đại náo thiên cung là
    sự khái quát cao độ bằng tưởng tượng cuộc đấu tranh khởi nghĩa của nông
    dân phản kháng vương triều phong kiến. Ở bảy hồi đầu “Tây Du Ký”, tác giả
    đã tả Tôn Ngộ Không đại náo ở ba giới long cung, âm phủ và thiên cung, mà
    không tả Tôn đại náo ở nhân gian. Tác giả, một mặt đem kẻ thống trị ở long
    cung, âm phủ, thiên cung tả rõ ra là những kẻ hôn mê như thế kia; một mặt
    coi các triều đình ở nhân gian như không có trong trời đất này. Ở trong trời
    đất này, đánh một dấu hỏi để độc giả tự tìm tòi suy nghĩ. Việc đó không thể
    bảo là không ngụ một ý sâu sắc.
    Tôn Ngộ Không là một hình tượng lý tưởng hóa, là hóa thân của lý tưởng
    và nguyện vọng của nhân dân lao động trong xã hội phong kiến. Sự đấu
    tranh phản kháng của Tôn không thu được thắng lợi tối hậu; Tôn không hất
    được Ngọc Hoàng ở trên ngôi báu hoàng đế xuống. Tôn Ngộ Không tuy có
    tài nhảy cân đẩu vân xa được mười vạn tám nghìn dậm, nhưng lại không
    thoát khỏi tay Phật Như Lai mà phải chịu chặn ép ở dưới núi Ngũ Hành. Cái
    kết cục khiến người ta than tiếc ấy dã khái quát như lối ngụ ngôn tấn bi kịch
    lịch sử của những cuộc khởi nghĩa nông dân bị thất bại trong xã hội phong
    kiến. Tác giả đã ca tụng tinh thần đấu tranh phản kháng triệt để của Tôn Ngộ
    Không nhưng vì bị hạn chế bởi thời đại và giai cấp, nên đã khoe khoang quá

    thế lực của giai cấp thống trị. Tác giả cho rằng dù là cuộc đấu tranh phản
    kháng dũng cảm nhất, triệt để nhất, cũng không hay thoát được lưới thống trị
    ấy. Ở một mức nhất định, tác giả đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng chính
    thống phong kiến, tư tưởng định mệnh, tìm không được lối thoát, nên chỉ xếp
    đặt được kết cục như thế.
    Việc đại náo thiên cung chỉ chiếm bảy hồi trong một trăm hồi của “Tây
    Du Ký”, nhưng đây là bảy hồi sáng láng, rực rỡ, thể hiện được đầy đủ tinh
    thần phản kháng triệt để và lý tưởng cách mạng của nhân dân.
    “Tây Du Ký”, từ bẩy hồi đầu trở đi, lại chuyển vào chuyện đi lấy kinh.
    Xét theo sự phát triển của chuyện, đấy là một bước ngoặt. Ở đây, việc đi lấy
    kinh đại biểu cho sự lần mò đi tìm một lý tưởng; phản ánh nguyện vọng
    mãnh liệt của nhân dân mưu toan tìm cách thoát khỏi hiện thực khổ cực.
    Việc đi lấy kinh là sự kiện trung tâm của các sách “Thú kinh thi thoại”, “Thú
    kinh tạp kịch”, tác giả “Tây Du Ký” lợi dụng việc ấy làm một đường dây để
    miêu tả việc khắc phục tám mươi mốt tai nạn. Việc đi lấy kinh được coi là
    mục đích của tác phẩm, vốn là một cái gì cực kỳ mờ ảo; cái được tác giả mô
    tả chủ yếu lại là những cuộc chiến đấu khẩn trương, quyết liệt để đạt tới mục
    đích ấy. Những cuộc chiến đấu này thật thiết thực, rõ ràng, một bước là một
    in vết chân. Ở trong sự miêu tả thực tế của tác phẩm, mục đích đi lấy kinh ấy
    khác xa, không trọng yếu bằng sự nỗ lực lớn lao phải bỏ ra để đạt tới mục
    đích ấy. Vì thế, chúng ta cần phân tích ý nghĩa tư tưởng của chuyện đi Tây
    Thiên lấy kinh; trọng điểm phải đặt vào sự đấu tranh của bọn Tôn Ngộ
    Không vì muốn đến được Tây Thiên, đã phải đấu tranh với bao nhiêu yêu ma
    quỷ quái trên đường đi.
    Trong quá trình đi Tây Thiên lấy kinh, Tôn Ngộ Không đã đấu tranh để
    quét trừ bọn yêu ma. Ý nghĩa hiện thực của cuộc đấu tranh trong thế giới
    tưởng tượng ấy là ở chỗ: tuy biết tự mình không lật đổ được sự thống trị tối
    cao của vương triều phong kiến, nhưng cứ phải tiếp tục tiến hành đấu tranh
    để bừa sạch những thế lực tàn ác của vương triều phong kiến đương tác yêu
    tác quái, trực tiếp tàn hại nhân dân trong xã hội.
    Tôn Ngộ Không ra không thoát được tay phật Như Lai, bị chặn ở dưới núi
    Ngũ Hành, cái đó tượng trưng sự thất bại của cuộc đấu tranh phản kháng
    triệt để. Nhưng thiên đình cũng đã phải nếm đủ mọi sự lợi hại của “lão Tôn”.

    Biết rằng “lão Tôn” không phải là người thích sinh sự, nên thiên đình đã thỏa
    hiệp và nhượng bộ đối với Tôn Ngộ Không. Trên đường đi lấy kinh, để
    chống lại sự phản kháng của Tôn, đã có cái “khấn cô nhi” trùm lên đầu Tôn,
    nó tượng trưng cho thế lực thống trị. Nhưng Tôn Ngộ Không lại không đầu
    hàng thiên đình, trở thành dứa đầy tớ cho Phật tổ, Ngọc Hoàng, để cho bọn
    ấy sai khiến. Trái lại, Tôn lại đòi sơn thần, thổ địa, tứ hải long vương, công
    tào, trực nhật, thiên binh, thiên tướng phải để cho mình sai khiến; thậm chí
    cả Phật tổ, Ngọc Hoàng cũng phải phục vụ Tôn. Để đấu phép với yêu ma,
    Tôn Ngộ Không lại đòi Ngọc Hoàng cho mượn trời để đóng cửa độ nửa giờ,
    và đánh tiếng rằng: “Nếu hé nửa tiếng “không”, thì lập tức lên điện Linh
    Tiêu dấy binh đao”. Ngọc Hoàng chỉ còn biết y theo thôi (hồi thứ 33). Tiếp
    xúc với thần, phật, Tôn đều có thái độ khinh miệt mà giễu cợt trêu đùa họ. Ví
    như ở hồi thứ 51 lúc đi qua núi Kim Đâu, Tôn Ngộ Không đấu phép với con
    tỷ quái, bị mất gậy bịt vàng; Tôn Ngộ Không biết con tỷ quái nhất định là vị
    hung tinh nào đó ở trên trời xuống hạ giới để tác quái, liền đi tìm Ngọc
    Hoàng “hỏi tội cai quan không nghiêm “. Một khi gặp Ngọc Hoàng, Tôn
    Ngộ Không liền hướng tới chào to mà rằng: “Chào lão quan, phiền ngài!
    Phiền ngài!”. Khi gặp Phật tổ, Tôn liền đem ngay Phật ra làm trăm thứ trò
    cười. Ví như ở hồi thứ: 77, khi qua động Sư Đà, núi Sư Đà, gặp ba con ma
    độc ác, Ngộ Không tìm được phật Như Lai, nói với Phật rằng: “Bạch Như
    Lai, tôi thấy người ta nói giống yêu kia có họ với Phật đấy!”. Lại nói: “Bạch
    Như Lai, nếu so thứ bậc ra, thì người lại là cháu ngoại yêu tinh kia đấy”. Tôn
    không nể nang chút nào, lột mặt nạ những kẻ gọi là tôn qui thống trị ở trên
    trời, đem chúng ra làm trò cười, trêu giễu chúng, đùa cợt chúng, ở Tôn Ngộ
    Không thật tuyệt nhiên không có bóng dáng “mặt đầy tơ, chân con hầu”, cúi
    luồn nịnh hót. Ở trước mặt thần, phật, Tôn luôn luôn giữ thái độ ngạo nghễ
    anh hùng. Việc đó biểu hiện khái quát tinh thần bất khuất của nhân dân lao
    động trong xã hội phong kiến nước ta, tha thiết yêu tự do, không cam chịu
    bất cứ sự áp bức nào, luôn tuôn ngạo nghễ đối với giai cấp thống trị phong
    kiến. Việc đấu tranh của Tôn Ngộ Không trên đường đi lấy kinh là kế tục
    việc đấu tranh của Tôn khi đại náo thiên cung, có điều là phạm vi đấu tranh
    có hạn chế; phương thức và phương pháp đấu tranh có thay đổi.
    Trên đường đi lấy kinh, Tôn Ngộ Không đã mở rộng cuộc đấu tranh

    ngoan cường với bọn yêu ma. Những yêu ma tưởng tượng này phản ánh một
    hiện thực đương thời là những thế lực hung ác của phong kiến. Bọn ấy đều
    trục tiếp cấu kết với giai cấp thống trị thượng tầng. Như Hoàng Bào lão yêu
    là Khuê Mộc Lang tinh ở trên trời; Kim Giác đại vương, Ngân Giác đại
    vương ở núi Bình Đính là hai đồng tử trông coi lò thuốc của Thái Thượng
    lão quân; Độc Giác Tỷ đại vương ở động Kim Đâu là con trâu xanh của Thái
    Thượng Lão quân v.v... Tôn Ngộ Không, với trí tuệ vô cùng, dũng cảm phi
    thường, đã chiến đấu ngoan cường, để chiến thắng dần dần từng đứa một, đã
    rẫy sạch những thế lực hung ác tàn hại nhân dân. Đó chính là thiện đã chiến
    thắng ác, sáng đã chiến tối, phản ánh rõ nguyện vọng của nhân dân. Thứ nữa,
    những thần quái yêu ma trong “Tây Du Ký” không những là thể hiện một số
    lực lượng xã hội mà cũng thể hiện một số lực lượng thiên nhiên đã nhân cách
    hóa; cả hai thường không tách rời nhau. Tôn Ngộ Không, trong truyện đi lấy
    kinh, không những đã thể hiện lý tưởng của nhân dân lao động chiến thắng
    thế lực hung ác của xã hội trong cuộc đấu tranh giai cấp mà lại cũng đã thể
    hiện lý tưởng của nhân dân lao động chiến thắng tự nhiên, chinh phục tự
    nhiên trong cuộc đấu tranh sản xuất. Còn như bọn Ngọc Hoàng, Long
    Vương, Diêm Vương trên vương quốc, thần trên trời chẳng những là bóng
    tối của kẻ thống trị phong kiến trong xã hội hiện thực, mà cũng là chúa tể
    của sức tự nhiên đã được thần hóa trong tưởng tượng của người. Tôn Ngộ
    Không đã chiến thắng những thần quái yêu ma ấy cũng chính là Tôn đã
    chiến thắng được thiên nhiên thường gây ra tai họa...
    ... Trong toàn bộ sách, tính cách của Tôn Ngộ Không đã giữ được tính
    thống nhất. Đi Tây Thiên lấy kinh là tính cách của Tôn phát triển tiến lên
    một bước, chứ nhất định không phải là phủ định tinh thần phản kháng khi đại
    náo thiên cung. Tôn Ngộ Không thủy chung vẫn là một kẻ anh hùng đã được
    lý tưởng hóa cao độ. Tôn không sợ trời, không sợ đất. Tôn có tinh thần chiến
    đấu phản kháng hết thảy sự áp bức của thống trị, kiên quyết khắc phục hết
    thảy các khó khăn; có trí tuệ và sức mạnh vô cùng; có phẩm chất cao quí, chí
    công vô tư, tha thiết yêu anh em, đồng tình và giúp đỡ những kẻ nhỏ yếu bị
    hại. Tất cả những cái đó đều lả cái mà nhân dân lao động vốn có, đồng thời
    lại là cái đã được lý tưởng hóa đến cao độ.
    Cái tinh thần phản kháng, ngạo nghễ, bất khuất, đánh đổ hết thẩy của Tôn

    Ngộ Không là nhằm vào giai cấp thống trị phong kiến mà chĩa mũi nhọn,
    điều đó có ý nghĩa tiến bộ rất lớn. Tính cách của Tôn là tích cực, hình tượng
    của Tôn mãi mãi được thiếu niên nhi đồng yêu thích, rất có tác dụng đến sự
    hình thành tính cách của các em. Chúng ta phải giải thích chính xác cho các
    em hiểu rõ điều kiện lịch sử đã sản sinh ra hình tượng đó và vận dụng một
    cách đúng đắn hình tượng đầy màu sắc thần kỳ này trong văn học cổ điển
    nước ta, để giúp cho thiếu niên nhi đồng của chúng ta phát triển ý chí không
    sợ khó khăn, ngoan cường đấu tranh để kiến thiết Tổ quốc, bảo vệ Tổ quốc.
    Trong “Tây Du Ký” Ngô Thừa Ân, ngoài việc sáng tạo ra hình tượng rực
    rỡ Tôn Ngộ Không, lại còn sáng tạo thành công hình tượng Trư Bát Giới.
    Tính cách của Trư Bát Giới rõ và nổi lạ thường, gieo cho ta có một cảm giác
    thực, mạnh mẽ. Sở dĩ chú...
     
    Gửi ý kiến

    KÍNH CHÀO QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ GHÉ TƯỜNG WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS NGÔ MÂY!

    Những quyển sách làm say mê ta đến tận tủy, chúng nói chuyện với ta, cho ta những lời khuyên và liên kết với ta bởi một tình thân thật sống động và nhịp nhàng.