Ý nghĩa của sách trong cuộc sống
Pháp lệnh phòng chống mại dâm

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Thẩm
Ngày gửi: 15h:40' 12-03-2024
Dung lượng: 88.5 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Thẩm
Ngày gửi: 15h:40' 12-03-2024
Dung lượng: 88.5 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
PHÁP LỆNH
CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI SỐ 10/2003/PLUBTVQH11 NGÀY 17 THÁNG 3 NĂM 2003 PHÒNG, CHỐNG
MẠI DÂM
Để góp phần bảo vệ truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, danh dự,
nhân phẩm của con người, hạnh phúc gia đình, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội,
bảo vệ sức khoẻ nhân dân, xây dựng và phát triển con người Việt Nam;
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng
12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ vào Nghị quyết số 12/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2002 của
Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 2 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của
Quốc hội nhiệm kỳ khoá XI (2002-2007) và năm 2003;
Pháp lệnh này quy định về phòng, chống mại dâm.
CH ƯƠ NG I
NH ỮNG Q UY ĐỊNH CH UNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Pháp lệnh này quy định những biện pháp phòng, chống mại dâm; trách
nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân và gia đình trong phòng, chống mại dâm.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Pháp lệnh này được áp dụng đối với:
1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức Việt Nam;
2. Cá nhân, tổ chức nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam; trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác thì áp dụng điều ước
quốc tế đó.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Pháp lệnh này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Bán dâm là hành vi giao cấu của một người với người khác để được trả
tiền hoặc lợi ích vật chất khác.
2. Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả
cho người bán dâm để được giao cấu.
3. Mại dâm là hành vi mua dâm, bán dâm.
4. Chứa mại dâm là hành vi sử dụng, thuê, cho thuê hoặc mượn, cho mượn
địa điểm, phương tiện để thực hiện việc mua dâm, bán dâm.
5. Tổ chức hoạt động mại dâm là hành vi bố trí, sắp xếp để thực hiện việc
mua dâm, bán dâm.
6. Cưỡng bức bán dâm là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc
dùng thủ đoạn buộc người khác phải thực hiện việc bán dâm.
7. Môi giới mại dâm là hành vi dụ dỗ hoặc dẫn dắt của người làm trung
gian để các bên thực hiện việc mua dâm, bán dâm.
8. Bảo kê mại dâm là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín hoặc
dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực để bảo vệ, duy trì hoạt động mại dâm.
Điều 4. Các hành vi bị nghiêm cấm
Nghiêm cấm các hành vi sau đây:
1. Mua dâm;
2. Bán dâm;
3. Chứa mại dâm;
4. Tổ chức hoạt động mại dâm;
5. Cưỡng bức bán dâm;
6. Môi giới mại dâm;
7. Bảo kê mại dâm;
8. Lợi dụng kinh doanh dịch vụ để hoạt động mại dâm;
9. Các hành vi khác liên quan đến hoạt động mại dâm theo quy định của
pháp luật.
Điều 5. Thực hiện pháp luật về phòng, chống mại dâm
Cơ quan, tổ chức, cá nhân và gia đình có trách nhiệm thực hiện các quy
định của pháp luật về phòng, chống mại dâm.
Mọi hành vi mại dâm, liên quan đến hoạt động mại dâm phải được phát
hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Điều 6. Khuyến khích, tạo điều kiện trong hoạt động phòng, chống mại dâm
Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho cơ quan, tổ chức, cá nhân trong
nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia, hợp tác trong hoạt động phòng,
chống mại dâm.
Điều 7. Các biện pháp phòng, chống mại dâm
Nhà nước thực hiện đồng Bộ các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, kinh tếxã hội, hành chính, hình sự và các biện pháp khác để phòng, chống mại dâm; kết
hợp chặt chẽ các biện pháp phòng, chống mại dâm với phòng, chống ma tuý và
phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS.
Điều 8. Trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong
phòng, chống mại dâm
1. Mọi cá nhân và gia đình có trách nhiệm tham gia phòng, chống mại dâm.
2. Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
hạn của mình có trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện các biện pháp
phòng, chống mại dâm; động viên, khuyến khích việc phát hiện, tố giác, đấu
tranh với tệ nạn mại dâm và xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm
pháp luật về phòng, chống mại dâm.
Điều 9. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
thành viên của Mặt trận trong phòng, chống mại dâm
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:
1. Phối hợp chặt chẽ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuyên truyền,
vận động, giáo dục, phổ biến pháp luật về phòng, chống mại dâm;
2. Giáo dục thành viên của tổ chức mình thực hiện pháp luật về phòng,
chống mại dâm;
3. Tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống mại dâm;
4. Tham gia giáo dục, dạy nghề, tạo việc làm để giúp người bán dâm hoà
nhập cộng đồng.
CH ƯƠ NG II
NH ỮNG BIỆN PH ÁP VÀ TRÁCH NH IỆM CỦA CƠ Q UAN,
TỔ CH ỨC, CÁ NH ÂN VÀ G IA ĐÌNH TRO NG PH Ò NG ,
CH Ố NG MẠI DÂM
Điều 10. Tuyên truyền, giáo dục phòng, chống mại dâm
Tuyên truyền, giáo dục phòng, chống mại dâm là biện pháp quan trọng để
mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân và gia đình chấp hành và tích cực tham gia hoạt
động phòng, chống mại dâm.
Nội dung tuyên truyền, giáo dục phòng, chống mại dâm bao gồm: tuyên
truyền, giáo dục truyền thống văn hoá, đạo đức, lối sống lành mạnh; tác hại của
tệ nạn mại dâm; các chủ trương, chính sách, biện pháp, những mô hình, kinh
nghiệm và các quy định của pháp luật về phòng, chống mại dâm.
Việc tuyên truyền, giáo dục phòng, chống mại dâm phải kết hợp với tuyên
truyền, giáo dục phòng, chống ma tuý và phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS.
Điều 11. Trách nhiệm của các cơ quan thông tin, tuyên truyền trong
phòng, chống mại dâm
Các cơ quan thông tin, tuyên truyền có trách nhiệm xây dựng nội dung,
hình thức tuyên truyền thích hợp và phối hợp với cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ
trang nhân dân để tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán Bộ, công chức,
người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và mọi công dân về phòng, chống mại
dâm.
Điều 12. Trách nhiệm của nhà trường và các cơ sở giáo dục khác trong
tuyên truyền, giáo dục phòng, chống mại dâm
Nhà trường và các cơ sở giáo dục khác có trách nhiệm:
1. Tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống mại dâm. Nội dung tuyên
truyền, giáo dục phải phù hợp với từng loại hình trường học, trình độ, lứa tuổi,
giới tính của học sinh, sinh viên, học viên và phong tục, tập quán của các dân
tộc;
2. Phối hợp với gia đình, cơ quan, tổ chức và Uỷ ban nhân dân địa phương
quản lý chặt chẽ học sinh, sinh viên, học viên; tổ chức các hoạt động vui chơi
lành mạnh để phòng ngừa, ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật về phòng,
chống mại dâm; động viên, khuyến khích học sinh, sinh viên, học viên tích cực
tham gia vào các hoạt động tuyên truyền, giáo dục phòng, chống mại dâm.
Điều 13. Trách nhiệm của gia đình trong phòng, chống mại dâm
Gia đình có trách nhiệm giáo dục các thành viên của gia đình về lối sống
lành mạnh, phát huy truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình văn hoá; phối hợp
với cơ quan, tổ chức và Uỷ ban nhân dân địa phương trong việc giáo dục, quản
lý thành viên của gia đình có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống mại
dâm, tạo điều kiện để họ hoà nhập cộng đồng.
Điều 14. Biện pháp kinh tế - xã hội trong phòng, chống mại dâm
1. Dạy nghề, tạo việc làm để có thu nhập, xóa đói giảm nghèo là những
biện pháp kinh tế - xã hội quan trọng nhằm ngăn ngừa sự phát sinh, phát triển tệ
nạn mại dâm.
2. Tổ chức chữa bệnh, giáo dục, dạy nghề, tạo việc làm giúp người bán
dâm hoà nhập cộng đồng.
3. Các cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có
trách nhiệm phối hợp với Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội liên hiệp thanh
niên Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam và các tổ chức, đoàn thể liên quan thực
hiện các biện pháp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, chú trọng đối với
người nghèo, người chưa có việc làm.
4. Nhà nước có chính sách, biện pháp khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức,
cá nhân tổ chức chữa bệnh, giáo dục, dạy nghề, tạo việc làm giúp người bán
dâm hòa nhập cộng đồng.
Điều 15. Trách nhiệm của các cơ sở kinh doanh dịch vụ
1. Khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng, cơ sở kinh doanh vũ trường, karaokê,
xoa bóp, tắm hơi và các cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng để hoạt động
mại dâm có trách nhiệm:
A) Ký hợp đồng lao động bằng văn bản với người lao động; đăng ký lao
động với cơ quan quản lý lao động địa phương;
B) Không sử dụng người lao động dưới 18 tuổi làm những công việc ảnh
hưởng xấu đến sự phát triển thể lực, trí lực và nhân cách của họ;
C) Thực hiện khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động theo quy định của
pháp luật;
D) Cam kết chấp hành quy định của pháp luật về phòng, chống mại dâm và
phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tệ nạn mại dâm xảy ra tại cơ sở.
2. Cơ sở kinh doanh vũ trường, karaokê, xoa bóp, tắm hơi và các cơ sở
kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng để hoạt động mại dâm chỉ được hoạt động khi
có đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của Chính phủ.
3. Người lao động làm việc tại các cơ sở quy định tại khoản 1 Điều này
phải chấp hành quy định về quản lý hộ khẩu và ký cam kết không vi phạm pháp
luật về phòng, chống mại dâm.
Điều 16. Quản lý hoạt động báo chí, xuất bản, dịch vụ văn hoá, thông
tin trong phòng, chống mại dâm
Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được sản xuất, lưu hành, vận chuyển, tàng
trữ, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu, phổ biến những hình ảnh, vật phẩm, sản
phẩm, thông tin có nội dung và hình thức đồi trụy, khiêu dâm, kích động tình
dục.
dục
Điều 17. Quản lý sản xuất, lưu hành, sử dụng dược phẩm kích thích tình
Cơ quan, tổ chức, cá nhân sản xuất, lưu hành, vận chuyển, tàng trữ, mua
bán, xuất khẩu, nhập khẩu và sử dụng dược phẩm kích thích tình dục phải tuân
theo quy định của pháp luật.
Điều 18. Trách nhiệm kiểm tra, thanh tra
1. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm kiểm tra, thanh tra cơ
quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quy định tại các Điều 15, 16 và 17
của Pháp lệnh này.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện để cơ
quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành kiểm tra, thanh tra việc phòng, chống
mại dâm.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng bị kiểm tra, thanh tra phải chấp
hành nghiêm chỉnh quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Điều 19. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn trong
phòng, chống mại dâm
Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm:
1. Tổ chức thực hiện phòng, chống mại dâm tại địa phương; lập hồ sơ,
thống kê, phân loại đối tượng, cơ sở kinh doanh dịch vụ để có biện pháp phòng
ngừa tệ nạn mại dâm;
2. Tổ chức thực hiện việc quản lý, giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với
người bán dâm và những người có hành vi liên quan đến mại dâm theo quy định
của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
Điều 20. Trách nhiệm của cơ sở chữa bệnh đối với người bán dâm
Cơ sở chữa bệnh được thành lập theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
có trách nhiệm:
1. Tổ chức học tập, giáo dục đạo đức, lối sống; tổ chức dạy nghề, lao động
sản xuất và hướng nghiệp; chữa bệnh, phục hồi sức khoẻ và tôn trọng danh dự,
nhân phẩm, tính mạng, tài sản của người bán dâm được đưa vào cơ sở chữa
bệnh;
2. Phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc thực hiện quy
định tại khoản 1 Điều này.
Điều 21. Phát hiện, tố giác và đấu tranh trong phòng, chống mại dâm
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khi phát hiện các hành vi được quy định tại
Điều 4 của Pháp lệnh này phải thông báo hoặc tố giác kịp thời với cơ quan nhà
nước có thẩm quyền.
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi nhận được thông tin, tố giác phải kịp
thời xem xét, xử lý và thông báo kết quả xử lý cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đó
khi có yêu cầu.
2. Người phát hiện, tố giác, đấu tranh phòng, chống mại dâm được bảo vệ
và giữ bí mật; trường hợp bị thiệt hại tài sản thì được đền bù; nếu bị thương tích,
tổn hại về sức khoẻ hoặc bị thiệt hại về tính mạng thì được hưởng chế độ, chính
sách theo quy định của pháp luật.
CH ƯƠ NG III
XỬ LÝ VI P H ẠM P H ÁP LUẬT VỀ PH Ò NG , CH Ố NG MẠI
DÂM
Điều 22. Xử lý đối với người mua dâm
1. Người mua dâm tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành
chính bằng hình thức cảnh cáo hoặc phạt tiền.
2. Người mua dâm người chưa thành niên hoặc biết mình bị nhiễm HIV mà
cố ý lây truyền bệnh cho người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 23. Xử lý đối với người bán dâm
1. Người bán dâm, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành
chính, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở
chữa bệnh. Người bán dâm là người nước ngoài thì tuỳ theo tính chất mức độ vi
phạm mà bị xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo, phạt tiền, trục xuất.
2. Người bán dâm biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền bệnh cho
người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 24. Xử lý đối với người có hành vi liên quan đến mại dâm
1. Người bảo kê mại dâm, góp vốn để sử dụng vào mục đích hoạt động mại
dâm thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc truy
cứu trách nhiệm hình sự.
2. Người môi giới mại dâm, chứa mại dâm, cưỡng bức bán dâm, tổ chức
mại dâm, mua bán phụ nữ, trẻ em để phục vụ hoạt động mại dâm thì bị truy cứu
trách nhiệm hình sự.
Điều 25. Xử lý đối với tổ chức, cá nhân lợi dụng kinh doanh dịch vụ để
hoạt động mại dâm
1. Cơ sở kinh doanh dịch vụ lợi dụng hoạt động kinh doanh dịch vụ để hoạt
động mại dâm thì bị phạt tiền và tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị tịch
thu tang vật, phương tiện có liên quan trực tiếp đến hoạt động mại dâm, tước
quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề.
2. Người đứng đầu cơ sở kinh doanh dịch vụ do thiếu tinh thần trách nhiệm
để hoạt động mại dâm xảy ra ở cơ sở do mình quản lý thì bị xử phạt hành chính;
trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 26. Xử lý đối với tổ chức, cá nhân phổ biến, tàng trữ, lưu hành các
sản phẩm có nội dung và hình thức khiêu dâm
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực văn hoá, dịch vụ văn
hóa, bưu chính, viễn thông có hành vi phổ biến, tàng trữ, lưu hành hình ảnh, vật
phẩm, sản phẩm, thông tin có nội dung và hình thức đồi truỵ, khiêu dâm, kích
động tình dục thì bị phạt tiền và tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị tước
quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc không được tiến hành các
hoạt động ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề.
2. Người có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này thì tuỳ theo
tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm
hình sự.
Điều 27. Xử lý đối với cán Bộ, công chức, người thuộc lực lượng vũ
trang nhân dân vi phạm pháp luật về phòng, chống mại dâm
1. Người có hành vi vi phạm quy định tại các điều 22, 23, 24, 25 và 26 của
Pháp lệnh này là cán Bộ, công chức hoặc người thuộc lực lượng vũ trang nhân
dân thì ngoài việc bị xử lý theo quy định tại các điều này còn bị thông báo cho
người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người đó để
giáo dục và xử lý kỷ luật.
2. Cán Bộ, công chức hoặc người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân vi
phạm pháp luật về phòng, chống mại dâm thì trong thời gian bị xử lý kỷ luật
không được đề cử, ứng cử vào các cơ quan dân cử, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội; không được bổ nhiệm hoặc bổ nhiệm lại, bổ nhiệm vào các
chức vụ tương đương hoặc cao hơn trong các cơ quan nhà nước hoặc trong lực
lượng vũ trang nhân dân.
Điều 28. Xử lý đối với người có hành vi vi phạm pháp luật khi thực hiện
nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống mại dâm
Người có nhiệm vụ trực tiếp đấu tranh phòng, chống mại dâm mà có hành
vi bảo kê mại dâm, dung túng, bao che hoặc không xử lý kịp thời để cho hoạt
động mại dâm xảy ra trên địa bàn quản lý thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm
mà bị xử lý kỷ luật, chuyển làm công tác khác hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình
sự; trường hợp gây thiệt hại thì cơ quan nơi người đó công tác phải có trách
nhiệm bồi thường và người đã gây ra thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn theo quy
định của pháp luật.
Điều 29. Xử lý đối với người có hành vi bao che hoặc không kịp thời xử
lý kỷ luật người vi phạm pháp luật về phòng, chống mại dâm
1. Người có chức vụ, quyền hạn có hành vi bao che hoặc không kịp thời xử
lý kỷ luật người thuộc quyền quản lý của mình có hành vi mại dâm, liên quan
đến hoạt động mại dâm thì bị xử lý kỷ luật.
2. Người có chức vụ, quyền hạn có hành vi bao che cho người thuộc quyền
quản lý của mình đã có hành vi vi phạm quy định tại Điều 28 của Pháp lệnh này
thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách
nhiệm hình sự.
CH ƯƠ NG IV
Q UẢN LÝ NH À NƯỚ C VỀ CÔ NG TÁC P HÒ NG , CH Ố NG
MẠI DÂM
Điều 30. Nội dung quản lý nhà nước về công tác phòng, chống mại dâm
Ban hành và tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật và kế
hoạch phòng, chống mại dâm.
Tổ chức Bộ máy quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực đội ngũ
cán Bộ làm công tác phòng, chống mại dâm.
Tổ chức và quản lý các cơ sở chữa bệnh, dạy nghề, tạo việc làm cho người
bán dâm.
Thống kê về phòng, chống mại dâm; huy động, quản lý và sử dụng các
nguồn lực cho phòng, chống mại dâm; nghiên cứu và áp dụng khoa học phục vụ
công tác phòng, chống mại dâm.
Tổ chức đấu tranh phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác
liên quan đến mại dâm.
Tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về phòng, chống mại dâm.
Hợp tác quốc tế về phòng, chống mại dâm.
Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật
về phòng, chống mại dâm.
Điều 31. Cơ quan quản lý nhà nước về công tác phòng, chống mại dâm
dâm.
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác phòng, chống mại
2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì cùng Bộ Công an phối hợp
với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ giúp Chính phủ thống
nhất quản lý nhà nước về công tác phòng, chống mại dâm.
3. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện và phối hợp với
các cơ quan hữu quan trong công tác phòng, chống mại dâm.
4. Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
có trách nhiệm thực hiện việc quản lý nhà nước về công tác phòng, chống mại
dâm ở địa phương.
Điều 32. Trách nhiệm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với các cơ quan, tổ chức
có liên quan xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, kế hoạch về phòng,
chống mại dâm; thống kê, kiểm tra, thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo về
phòng, chống mại dâm; thực hiện hợp tác quốc tế về phòng, chống mại dâm theo
sự phân công của Chính phủ.
Điều 33. Trách nhiệm của Bộ Công an
Bộ Công an có trách nhiệm tổ chức đấu tranh phòng, chống tội phạm về
mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em để phục vụ hoạt động mại dâm và các vi
phạm pháp luật có liên quan đến mại dâm; chỉ đạo lập hồ sơ, đưa người bán dâm
vào cơ sở chữa bệnh và hỗ trợ cơ sở chữa bệnh giữ gìn trật tự, an ninh; phối hợp
với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, các Bộ, ngành liên quan trong việc
chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện việc quản lý, giáo dục người bán dâm,
người có hành vi liên quan đến mại dâm tại cộng đồng, kiểm tra, thanh tra và xử
lý các cơ sở kinh doanh dịch vụ có vi phạm pháp luật về phòng, chống mại dâm.
Điều 34. Trách nhiệm của Bộ Văn hoá - Thông tin, Bộ Y tế, Bộ Thương
mại, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cục Du lịch
1. Bộ Văn hoá - Thông tin, Bộ Y tế, Bộ Thương mại, Tổng cục Du lịch trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, tổ
chức các hoạt động phòng, chống mại dâm thuộc lĩnh vực, ngành; quản lý các cơ
sở kinh doanh dịch vụ; phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các
Bộ, ngành có liên quan tổ chức kiểm tra, thanh tra và xử lý các cơ sở kinh doanh
dịch vụ thuộc ngành quản lý có vi phạm pháp luật về phòng, chống mại dâm.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm phối hợp với Bộ Lao động Thương binh và Xã hội trong việc chỉ đạo, xây dựng chương trình, nội dung
giáo dục về phòng, chống mại dâm trong nhà trường và các cơ sở giáo dục khác.
Điều 35. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp và Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân các cấp
1. Uỷ ban nhân dân các cấp lập kế hoạch phòng, chống mại dâm hàng năm
trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định; bố trí kinh phí và huy động các
nguồn lực cho công tác phòng, chống mại dâm; chỉ đạo, tổ chức thực hiện công
tác phòng, chống mại dâm; báo cáo kết quả thực hiện công tác này với Hội đồng
nhân dân cùng cấp và Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp.
2. Hàng năm, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương báo
cáo Chính phủ về công tác phòng, chống mại dâm tại địa phương.
3. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm về công tác phòng,
chống mại dâm tại địa phương do mình quản lý.
Điều 36. Kiểm tra, thanh tra về phòng, chống mại dâm
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các
cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức kiểm
tra, thanh tra, phát hiện và xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về phòng,
chống mại dâm. Trong trường hợp cần thiết, Uỷ ban nhân dân các cấp thành lập
thanh tra liên ngành để thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống
mại dâm ở địa phương.
Điều 37. Kinh phí cho công tác phòng, chống mại dâm
Nhà nước bố trí kinh phí, có chính sách sử dụng nguồn thu từ việc xử lý
các vi phạm pháp luật về phòng, chống mại dâm và huy động các nguồn lực
khác cho công tác phòng, chống mại dâm.
CH ƯƠ NG V
K H EN TH ƯỞ NG VÀ K H IẾU NẠI, TỐ CÁO
Điều 38. Khen thưởng
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác phòng, chống mại
dâm thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật.
Điều 39. Khiếu nại, tố cáo và trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại đối với quyết định xử lý
của người có thẩm quyền trong việc phòng, chống mại dâm khi có căn cứ cho
rằng quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của
mình.
2. Công dân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống
mại dâm.
3. Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền chịu trách nhiệm giải quyết
khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật.
CH ƯƠ NG VI
ĐIỀU K H O ẢN TH I H ÀNH
Điều 40. Hiệu lực thi hành
Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2003.
Những quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bị bãi bỏ.
Điều 41. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này.
TM. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Nguyễn Văn An
CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI SỐ 10/2003/PLUBTVQH11 NGÀY 17 THÁNG 3 NĂM 2003 PHÒNG, CHỐNG
MẠI DÂM
Để góp phần bảo vệ truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, danh dự,
nhân phẩm của con người, hạnh phúc gia đình, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội,
bảo vệ sức khoẻ nhân dân, xây dựng và phát triển con người Việt Nam;
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng
12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ vào Nghị quyết số 12/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2002 của
Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 2 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của
Quốc hội nhiệm kỳ khoá XI (2002-2007) và năm 2003;
Pháp lệnh này quy định về phòng, chống mại dâm.
CH ƯƠ NG I
NH ỮNG Q UY ĐỊNH CH UNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Pháp lệnh này quy định những biện pháp phòng, chống mại dâm; trách
nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân và gia đình trong phòng, chống mại dâm.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Pháp lệnh này được áp dụng đối với:
1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức Việt Nam;
2. Cá nhân, tổ chức nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam; trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác thì áp dụng điều ước
quốc tế đó.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Pháp lệnh này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Bán dâm là hành vi giao cấu của một người với người khác để được trả
tiền hoặc lợi ích vật chất khác.
2. Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả
cho người bán dâm để được giao cấu.
3. Mại dâm là hành vi mua dâm, bán dâm.
4. Chứa mại dâm là hành vi sử dụng, thuê, cho thuê hoặc mượn, cho mượn
địa điểm, phương tiện để thực hiện việc mua dâm, bán dâm.
5. Tổ chức hoạt động mại dâm là hành vi bố trí, sắp xếp để thực hiện việc
mua dâm, bán dâm.
6. Cưỡng bức bán dâm là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc
dùng thủ đoạn buộc người khác phải thực hiện việc bán dâm.
7. Môi giới mại dâm là hành vi dụ dỗ hoặc dẫn dắt của người làm trung
gian để các bên thực hiện việc mua dâm, bán dâm.
8. Bảo kê mại dâm là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín hoặc
dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực để bảo vệ, duy trì hoạt động mại dâm.
Điều 4. Các hành vi bị nghiêm cấm
Nghiêm cấm các hành vi sau đây:
1. Mua dâm;
2. Bán dâm;
3. Chứa mại dâm;
4. Tổ chức hoạt động mại dâm;
5. Cưỡng bức bán dâm;
6. Môi giới mại dâm;
7. Bảo kê mại dâm;
8. Lợi dụng kinh doanh dịch vụ để hoạt động mại dâm;
9. Các hành vi khác liên quan đến hoạt động mại dâm theo quy định của
pháp luật.
Điều 5. Thực hiện pháp luật về phòng, chống mại dâm
Cơ quan, tổ chức, cá nhân và gia đình có trách nhiệm thực hiện các quy
định của pháp luật về phòng, chống mại dâm.
Mọi hành vi mại dâm, liên quan đến hoạt động mại dâm phải được phát
hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Điều 6. Khuyến khích, tạo điều kiện trong hoạt động phòng, chống mại dâm
Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho cơ quan, tổ chức, cá nhân trong
nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia, hợp tác trong hoạt động phòng,
chống mại dâm.
Điều 7. Các biện pháp phòng, chống mại dâm
Nhà nước thực hiện đồng Bộ các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, kinh tếxã hội, hành chính, hình sự và các biện pháp khác để phòng, chống mại dâm; kết
hợp chặt chẽ các biện pháp phòng, chống mại dâm với phòng, chống ma tuý và
phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS.
Điều 8. Trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong
phòng, chống mại dâm
1. Mọi cá nhân và gia đình có trách nhiệm tham gia phòng, chống mại dâm.
2. Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
hạn của mình có trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện các biện pháp
phòng, chống mại dâm; động viên, khuyến khích việc phát hiện, tố giác, đấu
tranh với tệ nạn mại dâm và xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm
pháp luật về phòng, chống mại dâm.
Điều 9. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
thành viên của Mặt trận trong phòng, chống mại dâm
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:
1. Phối hợp chặt chẽ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuyên truyền,
vận động, giáo dục, phổ biến pháp luật về phòng, chống mại dâm;
2. Giáo dục thành viên của tổ chức mình thực hiện pháp luật về phòng,
chống mại dâm;
3. Tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống mại dâm;
4. Tham gia giáo dục, dạy nghề, tạo việc làm để giúp người bán dâm hoà
nhập cộng đồng.
CH ƯƠ NG II
NH ỮNG BIỆN PH ÁP VÀ TRÁCH NH IỆM CỦA CƠ Q UAN,
TỔ CH ỨC, CÁ NH ÂN VÀ G IA ĐÌNH TRO NG PH Ò NG ,
CH Ố NG MẠI DÂM
Điều 10. Tuyên truyền, giáo dục phòng, chống mại dâm
Tuyên truyền, giáo dục phòng, chống mại dâm là biện pháp quan trọng để
mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân và gia đình chấp hành và tích cực tham gia hoạt
động phòng, chống mại dâm.
Nội dung tuyên truyền, giáo dục phòng, chống mại dâm bao gồm: tuyên
truyền, giáo dục truyền thống văn hoá, đạo đức, lối sống lành mạnh; tác hại của
tệ nạn mại dâm; các chủ trương, chính sách, biện pháp, những mô hình, kinh
nghiệm và các quy định của pháp luật về phòng, chống mại dâm.
Việc tuyên truyền, giáo dục phòng, chống mại dâm phải kết hợp với tuyên
truyền, giáo dục phòng, chống ma tuý và phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS.
Điều 11. Trách nhiệm của các cơ quan thông tin, tuyên truyền trong
phòng, chống mại dâm
Các cơ quan thông tin, tuyên truyền có trách nhiệm xây dựng nội dung,
hình thức tuyên truyền thích hợp và phối hợp với cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ
trang nhân dân để tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán Bộ, công chức,
người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và mọi công dân về phòng, chống mại
dâm.
Điều 12. Trách nhiệm của nhà trường và các cơ sở giáo dục khác trong
tuyên truyền, giáo dục phòng, chống mại dâm
Nhà trường và các cơ sở giáo dục khác có trách nhiệm:
1. Tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống mại dâm. Nội dung tuyên
truyền, giáo dục phải phù hợp với từng loại hình trường học, trình độ, lứa tuổi,
giới tính của học sinh, sinh viên, học viên và phong tục, tập quán của các dân
tộc;
2. Phối hợp với gia đình, cơ quan, tổ chức và Uỷ ban nhân dân địa phương
quản lý chặt chẽ học sinh, sinh viên, học viên; tổ chức các hoạt động vui chơi
lành mạnh để phòng ngừa, ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật về phòng,
chống mại dâm; động viên, khuyến khích học sinh, sinh viên, học viên tích cực
tham gia vào các hoạt động tuyên truyền, giáo dục phòng, chống mại dâm.
Điều 13. Trách nhiệm của gia đình trong phòng, chống mại dâm
Gia đình có trách nhiệm giáo dục các thành viên của gia đình về lối sống
lành mạnh, phát huy truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình văn hoá; phối hợp
với cơ quan, tổ chức và Uỷ ban nhân dân địa phương trong việc giáo dục, quản
lý thành viên của gia đình có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống mại
dâm, tạo điều kiện để họ hoà nhập cộng đồng.
Điều 14. Biện pháp kinh tế - xã hội trong phòng, chống mại dâm
1. Dạy nghề, tạo việc làm để có thu nhập, xóa đói giảm nghèo là những
biện pháp kinh tế - xã hội quan trọng nhằm ngăn ngừa sự phát sinh, phát triển tệ
nạn mại dâm.
2. Tổ chức chữa bệnh, giáo dục, dạy nghề, tạo việc làm giúp người bán
dâm hoà nhập cộng đồng.
3. Các cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có
trách nhiệm phối hợp với Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội liên hiệp thanh
niên Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam và các tổ chức, đoàn thể liên quan thực
hiện các biện pháp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, chú trọng đối với
người nghèo, người chưa có việc làm.
4. Nhà nước có chính sách, biện pháp khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức,
cá nhân tổ chức chữa bệnh, giáo dục, dạy nghề, tạo việc làm giúp người bán
dâm hòa nhập cộng đồng.
Điều 15. Trách nhiệm của các cơ sở kinh doanh dịch vụ
1. Khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng, cơ sở kinh doanh vũ trường, karaokê,
xoa bóp, tắm hơi và các cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng để hoạt động
mại dâm có trách nhiệm:
A) Ký hợp đồng lao động bằng văn bản với người lao động; đăng ký lao
động với cơ quan quản lý lao động địa phương;
B) Không sử dụng người lao động dưới 18 tuổi làm những công việc ảnh
hưởng xấu đến sự phát triển thể lực, trí lực và nhân cách của họ;
C) Thực hiện khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động theo quy định của
pháp luật;
D) Cam kết chấp hành quy định của pháp luật về phòng, chống mại dâm và
phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tệ nạn mại dâm xảy ra tại cơ sở.
2. Cơ sở kinh doanh vũ trường, karaokê, xoa bóp, tắm hơi và các cơ sở
kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng để hoạt động mại dâm chỉ được hoạt động khi
có đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của Chính phủ.
3. Người lao động làm việc tại các cơ sở quy định tại khoản 1 Điều này
phải chấp hành quy định về quản lý hộ khẩu và ký cam kết không vi phạm pháp
luật về phòng, chống mại dâm.
Điều 16. Quản lý hoạt động báo chí, xuất bản, dịch vụ văn hoá, thông
tin trong phòng, chống mại dâm
Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được sản xuất, lưu hành, vận chuyển, tàng
trữ, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu, phổ biến những hình ảnh, vật phẩm, sản
phẩm, thông tin có nội dung và hình thức đồi trụy, khiêu dâm, kích động tình
dục.
dục
Điều 17. Quản lý sản xuất, lưu hành, sử dụng dược phẩm kích thích tình
Cơ quan, tổ chức, cá nhân sản xuất, lưu hành, vận chuyển, tàng trữ, mua
bán, xuất khẩu, nhập khẩu và sử dụng dược phẩm kích thích tình dục phải tuân
theo quy định của pháp luật.
Điều 18. Trách nhiệm kiểm tra, thanh tra
1. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm kiểm tra, thanh tra cơ
quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quy định tại các Điều 15, 16 và 17
của Pháp lệnh này.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện để cơ
quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành kiểm tra, thanh tra việc phòng, chống
mại dâm.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng bị kiểm tra, thanh tra phải chấp
hành nghiêm chỉnh quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Điều 19. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn trong
phòng, chống mại dâm
Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm:
1. Tổ chức thực hiện phòng, chống mại dâm tại địa phương; lập hồ sơ,
thống kê, phân loại đối tượng, cơ sở kinh doanh dịch vụ để có biện pháp phòng
ngừa tệ nạn mại dâm;
2. Tổ chức thực hiện việc quản lý, giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với
người bán dâm và những người có hành vi liên quan đến mại dâm theo quy định
của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
Điều 20. Trách nhiệm của cơ sở chữa bệnh đối với người bán dâm
Cơ sở chữa bệnh được thành lập theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
có trách nhiệm:
1. Tổ chức học tập, giáo dục đạo đức, lối sống; tổ chức dạy nghề, lao động
sản xuất và hướng nghiệp; chữa bệnh, phục hồi sức khoẻ và tôn trọng danh dự,
nhân phẩm, tính mạng, tài sản của người bán dâm được đưa vào cơ sở chữa
bệnh;
2. Phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc thực hiện quy
định tại khoản 1 Điều này.
Điều 21. Phát hiện, tố giác và đấu tranh trong phòng, chống mại dâm
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khi phát hiện các hành vi được quy định tại
Điều 4 của Pháp lệnh này phải thông báo hoặc tố giác kịp thời với cơ quan nhà
nước có thẩm quyền.
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi nhận được thông tin, tố giác phải kịp
thời xem xét, xử lý và thông báo kết quả xử lý cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đó
khi có yêu cầu.
2. Người phát hiện, tố giác, đấu tranh phòng, chống mại dâm được bảo vệ
và giữ bí mật; trường hợp bị thiệt hại tài sản thì được đền bù; nếu bị thương tích,
tổn hại về sức khoẻ hoặc bị thiệt hại về tính mạng thì được hưởng chế độ, chính
sách theo quy định của pháp luật.
CH ƯƠ NG III
XỬ LÝ VI P H ẠM P H ÁP LUẬT VỀ PH Ò NG , CH Ố NG MẠI
DÂM
Điều 22. Xử lý đối với người mua dâm
1. Người mua dâm tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành
chính bằng hình thức cảnh cáo hoặc phạt tiền.
2. Người mua dâm người chưa thành niên hoặc biết mình bị nhiễm HIV mà
cố ý lây truyền bệnh cho người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 23. Xử lý đối với người bán dâm
1. Người bán dâm, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành
chính, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở
chữa bệnh. Người bán dâm là người nước ngoài thì tuỳ theo tính chất mức độ vi
phạm mà bị xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo, phạt tiền, trục xuất.
2. Người bán dâm biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền bệnh cho
người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 24. Xử lý đối với người có hành vi liên quan đến mại dâm
1. Người bảo kê mại dâm, góp vốn để sử dụng vào mục đích hoạt động mại
dâm thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc truy
cứu trách nhiệm hình sự.
2. Người môi giới mại dâm, chứa mại dâm, cưỡng bức bán dâm, tổ chức
mại dâm, mua bán phụ nữ, trẻ em để phục vụ hoạt động mại dâm thì bị truy cứu
trách nhiệm hình sự.
Điều 25. Xử lý đối với tổ chức, cá nhân lợi dụng kinh doanh dịch vụ để
hoạt động mại dâm
1. Cơ sở kinh doanh dịch vụ lợi dụng hoạt động kinh doanh dịch vụ để hoạt
động mại dâm thì bị phạt tiền và tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị tịch
thu tang vật, phương tiện có liên quan trực tiếp đến hoạt động mại dâm, tước
quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề.
2. Người đứng đầu cơ sở kinh doanh dịch vụ do thiếu tinh thần trách nhiệm
để hoạt động mại dâm xảy ra ở cơ sở do mình quản lý thì bị xử phạt hành chính;
trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 26. Xử lý đối với tổ chức, cá nhân phổ biến, tàng trữ, lưu hành các
sản phẩm có nội dung và hình thức khiêu dâm
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực văn hoá, dịch vụ văn
hóa, bưu chính, viễn thông có hành vi phổ biến, tàng trữ, lưu hành hình ảnh, vật
phẩm, sản phẩm, thông tin có nội dung và hình thức đồi truỵ, khiêu dâm, kích
động tình dục thì bị phạt tiền và tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị tước
quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc không được tiến hành các
hoạt động ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề.
2. Người có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này thì tuỳ theo
tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm
hình sự.
Điều 27. Xử lý đối với cán Bộ, công chức, người thuộc lực lượng vũ
trang nhân dân vi phạm pháp luật về phòng, chống mại dâm
1. Người có hành vi vi phạm quy định tại các điều 22, 23, 24, 25 và 26 của
Pháp lệnh này là cán Bộ, công chức hoặc người thuộc lực lượng vũ trang nhân
dân thì ngoài việc bị xử lý theo quy định tại các điều này còn bị thông báo cho
người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người đó để
giáo dục và xử lý kỷ luật.
2. Cán Bộ, công chức hoặc người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân vi
phạm pháp luật về phòng, chống mại dâm thì trong thời gian bị xử lý kỷ luật
không được đề cử, ứng cử vào các cơ quan dân cử, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội; không được bổ nhiệm hoặc bổ nhiệm lại, bổ nhiệm vào các
chức vụ tương đương hoặc cao hơn trong các cơ quan nhà nước hoặc trong lực
lượng vũ trang nhân dân.
Điều 28. Xử lý đối với người có hành vi vi phạm pháp luật khi thực hiện
nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống mại dâm
Người có nhiệm vụ trực tiếp đấu tranh phòng, chống mại dâm mà có hành
vi bảo kê mại dâm, dung túng, bao che hoặc không xử lý kịp thời để cho hoạt
động mại dâm xảy ra trên địa bàn quản lý thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm
mà bị xử lý kỷ luật, chuyển làm công tác khác hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình
sự; trường hợp gây thiệt hại thì cơ quan nơi người đó công tác phải có trách
nhiệm bồi thường và người đã gây ra thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn theo quy
định của pháp luật.
Điều 29. Xử lý đối với người có hành vi bao che hoặc không kịp thời xử
lý kỷ luật người vi phạm pháp luật về phòng, chống mại dâm
1. Người có chức vụ, quyền hạn có hành vi bao che hoặc không kịp thời xử
lý kỷ luật người thuộc quyền quản lý của mình có hành vi mại dâm, liên quan
đến hoạt động mại dâm thì bị xử lý kỷ luật.
2. Người có chức vụ, quyền hạn có hành vi bao che cho người thuộc quyền
quản lý của mình đã có hành vi vi phạm quy định tại Điều 28 của Pháp lệnh này
thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách
nhiệm hình sự.
CH ƯƠ NG IV
Q UẢN LÝ NH À NƯỚ C VỀ CÔ NG TÁC P HÒ NG , CH Ố NG
MẠI DÂM
Điều 30. Nội dung quản lý nhà nước về công tác phòng, chống mại dâm
Ban hành và tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật và kế
hoạch phòng, chống mại dâm.
Tổ chức Bộ máy quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực đội ngũ
cán Bộ làm công tác phòng, chống mại dâm.
Tổ chức và quản lý các cơ sở chữa bệnh, dạy nghề, tạo việc làm cho người
bán dâm.
Thống kê về phòng, chống mại dâm; huy động, quản lý và sử dụng các
nguồn lực cho phòng, chống mại dâm; nghiên cứu và áp dụng khoa học phục vụ
công tác phòng, chống mại dâm.
Tổ chức đấu tranh phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác
liên quan đến mại dâm.
Tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về phòng, chống mại dâm.
Hợp tác quốc tế về phòng, chống mại dâm.
Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật
về phòng, chống mại dâm.
Điều 31. Cơ quan quản lý nhà nước về công tác phòng, chống mại dâm
dâm.
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác phòng, chống mại
2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì cùng Bộ Công an phối hợp
với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ giúp Chính phủ thống
nhất quản lý nhà nước về công tác phòng, chống mại dâm.
3. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện và phối hợp với
các cơ quan hữu quan trong công tác phòng, chống mại dâm.
4. Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
có trách nhiệm thực hiện việc quản lý nhà nước về công tác phòng, chống mại
dâm ở địa phương.
Điều 32. Trách nhiệm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với các cơ quan, tổ chức
có liên quan xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, kế hoạch về phòng,
chống mại dâm; thống kê, kiểm tra, thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo về
phòng, chống mại dâm; thực hiện hợp tác quốc tế về phòng, chống mại dâm theo
sự phân công của Chính phủ.
Điều 33. Trách nhiệm của Bộ Công an
Bộ Công an có trách nhiệm tổ chức đấu tranh phòng, chống tội phạm về
mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em để phục vụ hoạt động mại dâm và các vi
phạm pháp luật có liên quan đến mại dâm; chỉ đạo lập hồ sơ, đưa người bán dâm
vào cơ sở chữa bệnh và hỗ trợ cơ sở chữa bệnh giữ gìn trật tự, an ninh; phối hợp
với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, các Bộ, ngành liên quan trong việc
chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện việc quản lý, giáo dục người bán dâm,
người có hành vi liên quan đến mại dâm tại cộng đồng, kiểm tra, thanh tra và xử
lý các cơ sở kinh doanh dịch vụ có vi phạm pháp luật về phòng, chống mại dâm.
Điều 34. Trách nhiệm của Bộ Văn hoá - Thông tin, Bộ Y tế, Bộ Thương
mại, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cục Du lịch
1. Bộ Văn hoá - Thông tin, Bộ Y tế, Bộ Thương mại, Tổng cục Du lịch trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, tổ
chức các hoạt động phòng, chống mại dâm thuộc lĩnh vực, ngành; quản lý các cơ
sở kinh doanh dịch vụ; phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các
Bộ, ngành có liên quan tổ chức kiểm tra, thanh tra và xử lý các cơ sở kinh doanh
dịch vụ thuộc ngành quản lý có vi phạm pháp luật về phòng, chống mại dâm.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm phối hợp với Bộ Lao động Thương binh và Xã hội trong việc chỉ đạo, xây dựng chương trình, nội dung
giáo dục về phòng, chống mại dâm trong nhà trường và các cơ sở giáo dục khác.
Điều 35. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp và Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân các cấp
1. Uỷ ban nhân dân các cấp lập kế hoạch phòng, chống mại dâm hàng năm
trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định; bố trí kinh phí và huy động các
nguồn lực cho công tác phòng, chống mại dâm; chỉ đạo, tổ chức thực hiện công
tác phòng, chống mại dâm; báo cáo kết quả thực hiện công tác này với Hội đồng
nhân dân cùng cấp và Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp.
2. Hàng năm, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương báo
cáo Chính phủ về công tác phòng, chống mại dâm tại địa phương.
3. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm về công tác phòng,
chống mại dâm tại địa phương do mình quản lý.
Điều 36. Kiểm tra, thanh tra về phòng, chống mại dâm
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các
cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức kiểm
tra, thanh tra, phát hiện và xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về phòng,
chống mại dâm. Trong trường hợp cần thiết, Uỷ ban nhân dân các cấp thành lập
thanh tra liên ngành để thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống
mại dâm ở địa phương.
Điều 37. Kinh phí cho công tác phòng, chống mại dâm
Nhà nước bố trí kinh phí, có chính sách sử dụng nguồn thu từ việc xử lý
các vi phạm pháp luật về phòng, chống mại dâm và huy động các nguồn lực
khác cho công tác phòng, chống mại dâm.
CH ƯƠ NG V
K H EN TH ƯỞ NG VÀ K H IẾU NẠI, TỐ CÁO
Điều 38. Khen thưởng
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác phòng, chống mại
dâm thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật.
Điều 39. Khiếu nại, tố cáo và trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại đối với quyết định xử lý
của người có thẩm quyền trong việc phòng, chống mại dâm khi có căn cứ cho
rằng quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của
mình.
2. Công dân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống
mại dâm.
3. Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền chịu trách nhiệm giải quyết
khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật.
CH ƯƠ NG VI
ĐIỀU K H O ẢN TH I H ÀNH
Điều 40. Hiệu lực thi hành
Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2003.
Những quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bị bãi bỏ.
Điều 41. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này.
TM. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Nguyễn Văn An
 





