DANH NGÔN HAY

Theo tâm lý học, giữ im lặng không có nghĩa là bạn không có gì để nói, mà là bạn cho rằng họ chưa sẵn sàng để nghe suy nghĩ của bạn. - Khuyết Danh

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    BẢN TIN HÔM NAY

    Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z6522676591609_b3e220003660ce9886025cb13cd6e2c4.jpg Z6522677129001_17bd516d35a011319452a82197a3aa73.jpg Z6522677286602_b13ed08e2998a1b6aa9910ee881109d7.jpg Z6525839992969_6faa64b79d12133b30a6be09333c5fe5.jpg Z6522677277438_440ab32a671b5e99abb2b9aed75d5c32.jpg Z6522676894451_54bbe0164d862e9e7964e7c2cf8d3bfb.jpg Z6522666617591_24680573b313b2baec1c521b4c60396a.jpg Z6522666570038_2168275e97cf6625d777fac458ce428a.jpg Z6522666545919_91e1eedd56a040b4859d86787b11d179.jpg Z6522666535329_72be407fee4a8d60558e6d779134523c.jpg Z6522666523051_d64865c4feada596bab0d1461be81b4a.jpg Z6522666394947_7045ae98392b026ee38c2bebf4fdf07f.jpg Z6522666404399_cea6f503563075330893134b01a1c8ef.jpg Z6522666410186_de8ccd7cd52da73b72a027e645127e36.jpg Z6522666432361_108e04e8938d2911413f6c50550fa418.jpg Z6399458934835_e3020adc140a1d52f3ff1d736da89bb6.jpg Z6170081214203_5d91029c28dcd8e5fbdb451d75abc93a.jpg HS_dang_tim_doc_sach_tai_kho_mo.jpg HS_dang_tim_doc_sach_tai_kho_mo_3.jpg HS_dang_tim_doc_sach_tai_kho_mo_1.jpg

    SÁCH ĐIỆN TỬ - SÁCH BÁC HỒ

    LIÊN KẾT LIÊN THƯ VIỆN

    💕💕 Bước vào thư viện, ta không chỉ chạm vào những trang sách mà còn chạm vào tâm hồn của những vĩ nhân vĩ đại nhất💕💕

    Ý nghĩa của sách trong cuộc sống

    Pháp lệnh phòng chống mại dâm

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Thẩm
    Ngày gửi: 15h:40' 12-03-2024
    Dung lượng: 88.5 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    PHÁP LỆNH
    CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI SỐ 10/2003/PLUBTVQH11 NGÀY 17 THÁNG 3 NĂM 2003 PHÒNG, CHỐNG
    MẠI DÂM
     
    Để góp phần bảo vệ truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, danh dự,
    nhân phẩm của con người, hạnh phúc gia đình, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội,
    bảo vệ sức khoẻ nhân dân, xây dựng và phát triển con người Việt Nam;
    Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
    1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng
    12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;
    Căn cứ vào Nghị quyết số 12/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2002 của
    Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 2 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của
    Quốc hội nhiệm kỳ khoá XI (2002-2007) và năm 2003;
    Pháp lệnh này quy định về phòng, chống mại dâm.
     
    CH ƯƠ NG I
    NH ỮNG Q UY ĐỊNH CH UNG
     
    Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
    Pháp lệnh này quy định những biện pháp phòng, chống mại dâm; trách
    nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân và gia đình trong phòng, chống mại dâm.
     
    Điều 2. Đối tượng áp dụng
    Pháp lệnh này được áp dụng đối với:
    1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức Việt Nam;
    2. Cá nhân, tổ chức nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã
    hội chủ nghĩa Việt Nam; trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ
    nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác thì áp dụng điều ước
    quốc tế đó.
     
    Điều 3. Giải thích từ ngữ
    Trong Pháp lệnh này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
    1. Bán dâm là hành vi giao cấu của một người với người khác để được trả
    tiền hoặc lợi ích vật chất khác.
    2. Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả
    cho người bán dâm để được giao cấu.

    3. Mại dâm là hành vi mua dâm, bán dâm.
    4. Chứa mại dâm là hành vi sử dụng, thuê, cho thuê hoặc mượn, cho mượn
    địa điểm, phương tiện để thực hiện việc mua dâm, bán dâm.
    5. Tổ chức hoạt động mại dâm là hành vi bố trí, sắp xếp để thực hiện việc
    mua dâm, bán dâm.
    6. Cưỡng bức bán dâm là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc
    dùng thủ đoạn buộc người khác phải thực hiện việc bán dâm.
    7. Môi giới mại dâm là hành vi dụ dỗ hoặc dẫn dắt của người làm trung
    gian để các bên thực hiện việc mua dâm, bán dâm.
    8. Bảo kê mại dâm là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín hoặc
    dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực để bảo vệ, duy trì hoạt động mại dâm.
     
    Điều 4. Các hành vi bị nghiêm cấm
    Nghiêm cấm các hành vi sau đây:
    1. Mua dâm;
    2. Bán dâm;
    3. Chứa mại dâm;
    4. Tổ chức hoạt động mại dâm;
    5. Cưỡng bức bán dâm;
    6. Môi giới mại dâm;
    7. Bảo kê mại dâm;
    8. Lợi dụng kinh doanh dịch vụ để hoạt động mại dâm;
    9. Các hành vi khác liên quan đến hoạt động mại dâm theo quy định của
    pháp luật.
     
    Điều 5. Thực hiện pháp luật về phòng, chống mại dâm
    Cơ quan, tổ chức, cá nhân và gia đình có trách nhiệm thực hiện các quy
    định của pháp luật về phòng, chống mại dâm.
    Mọi hành vi mại dâm, liên quan đến hoạt động mại dâm phải được phát
    hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
     
    Điều 6. Khuyến khích, tạo điều kiện trong hoạt động phòng, chống mại dâm
    Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho cơ quan, tổ chức, cá nhân trong
    nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia, hợp tác trong hoạt động phòng,
    chống mại dâm.

     
    Điều 7. Các biện pháp phòng, chống mại dâm
    Nhà nước thực hiện đồng Bộ các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, kinh tếxã hội, hành chính, hình sự và các biện pháp khác để phòng, chống mại dâm; kết
    hợp chặt chẽ các biện pháp phòng, chống mại dâm với phòng, chống ma tuý và
    phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS.
    Điều 8. Trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong
    phòng, chống mại dâm
    1. Mọi cá nhân và gia đình có trách nhiệm tham gia phòng, chống mại dâm.
    2. Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
    hạn của mình có trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện các biện pháp
    phòng, chống mại dâm; động viên, khuyến khích việc phát hiện, tố giác, đấu
    tranh với tệ nạn mại dâm và xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm
    pháp luật về phòng, chống mại dâm.
     
    Điều 9. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
    thành viên của Mặt trận trong phòng, chống mại dâm
    Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong
    phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:
    1. Phối hợp chặt chẽ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuyên truyền,
    vận động, giáo dục, phổ biến pháp luật về phòng, chống mại dâm;
    2. Giáo dục thành viên của tổ chức mình thực hiện pháp luật về phòng,
    chống mại dâm;
    3. Tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống mại dâm;
    4. Tham gia giáo dục, dạy nghề, tạo việc làm để giúp người bán dâm hoà
    nhập cộng đồng.
     
    CH ƯƠ NG II
    NH ỮNG BIỆN PH ÁP VÀ TRÁCH NH IỆM CỦA CƠ Q UAN,
    TỔ CH ỨC, CÁ NH ÂN VÀ G IA ĐÌNH TRO NG PH Ò NG ,
    CH Ố NG MẠI DÂM
     
    Điều 10. Tuyên truyền, giáo dục phòng, chống mại dâm
    Tuyên truyền, giáo dục phòng, chống mại dâm là biện pháp quan trọng để
    mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân và gia đình chấp hành và tích cực tham gia hoạt
    động phòng, chống mại dâm.
    Nội dung tuyên truyền, giáo dục phòng, chống mại dâm bao gồm: tuyên
    truyền, giáo dục truyền thống văn hoá, đạo đức, lối sống lành mạnh; tác hại của

    tệ nạn mại dâm; các chủ trương, chính sách, biện pháp, những mô hình, kinh
    nghiệm và các quy định của pháp luật về phòng, chống mại dâm.
    Việc tuyên truyền, giáo dục phòng, chống mại dâm phải kết hợp với tuyên
    truyền, giáo dục phòng, chống ma tuý và phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS.
     
    Điều 11. Trách nhiệm của các cơ quan thông tin, tuyên truyền trong
    phòng, chống mại dâm
    Các cơ quan thông tin, tuyên truyền có trách nhiệm xây dựng nội dung,
    hình thức tuyên truyền thích hợp và phối hợp với cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ
    trang nhân dân để tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán Bộ, công chức,
    người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và mọi công dân về phòng, chống mại
    dâm.
     
    Điều 12. Trách nhiệm của nhà trường và các cơ sở giáo dục khác trong
    tuyên truyền, giáo dục phòng, chống mại dâm
    Nhà trường và các cơ sở giáo dục khác có trách nhiệm:
    1. Tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống mại dâm. Nội dung tuyên
    truyền, giáo dục phải phù hợp với từng loại hình trường học, trình độ, lứa tuổi,
    giới tính của học sinh, sinh viên, học viên và phong tục, tập quán của các dân
    tộc;
    2. Phối hợp với gia đình, cơ quan, tổ chức và Uỷ ban nhân dân địa phương
    quản lý chặt chẽ học sinh, sinh viên, học viên; tổ chức các hoạt động vui chơi
    lành mạnh để phòng ngừa, ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật về phòng,
    chống mại dâm; động viên, khuyến khích học sinh, sinh viên, học viên tích cực
    tham gia vào các hoạt động tuyên truyền, giáo dục phòng, chống mại dâm.
     
    Điều 13. Trách nhiệm của gia đình trong phòng, chống mại dâm
    Gia đình có trách nhiệm giáo dục các thành viên của gia đình về lối sống
    lành mạnh, phát huy truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình văn hoá; phối hợp
    với cơ quan, tổ chức và Uỷ ban nhân dân địa phương trong việc giáo dục, quản
    lý thành viên của gia đình có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống mại
    dâm, tạo điều kiện để họ hoà nhập cộng đồng.
     
    Điều 14. Biện pháp kinh tế - xã hội trong phòng, chống mại dâm
    1. Dạy nghề, tạo việc làm để có thu nhập, xóa đói giảm nghèo là những
    biện pháp kinh tế - xã hội quan trọng nhằm ngăn ngừa sự phát sinh, phát triển tệ
    nạn mại dâm.
    2. Tổ chức chữa bệnh, giáo dục, dạy nghề, tạo việc làm giúp người bán
    dâm hoà nhập cộng đồng.

    3. Các cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có
    trách nhiệm phối hợp với Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội liên hiệp thanh
    niên Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam và các tổ chức, đoàn thể liên quan thực
    hiện các biện pháp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, chú trọng đối với
    người nghèo, người chưa có việc làm.
    4. Nhà nước có chính sách, biện pháp khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức,
    cá nhân tổ chức chữa bệnh, giáo dục, dạy nghề, tạo việc làm giúp người bán
    dâm hòa nhập cộng đồng.
     
    Điều 15. Trách nhiệm của các cơ sở kinh doanh dịch vụ
    1. Khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng, cơ sở kinh doanh vũ trường, karaokê,
    xoa bóp, tắm hơi và các cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng để hoạt động
    mại dâm có trách nhiệm:
    A) Ký hợp đồng lao động bằng văn bản với người lao động; đăng ký lao
    động với cơ quan quản lý lao động địa phương;
    B) Không sử dụng người lao động dưới 18 tuổi làm những công việc ảnh
    hưởng xấu đến sự phát triển thể lực, trí lực và nhân cách của họ;
    C) Thực hiện khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động theo quy định của
    pháp luật;
    D) Cam kết chấp hành quy định của pháp luật về phòng, chống mại dâm và
    phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tệ nạn mại dâm xảy ra tại cơ sở.
    2. Cơ sở kinh doanh vũ trường, karaokê, xoa bóp, tắm hơi và các cơ sở
    kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng để hoạt động mại dâm chỉ được hoạt động khi
    có đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của Chính phủ.
    3. Người lao động làm việc tại các cơ sở quy định tại khoản 1 Điều này
    phải chấp hành quy định về quản lý hộ khẩu và ký cam kết không vi phạm pháp
    luật về phòng, chống mại dâm.
     
    Điều 16. Quản lý hoạt động báo chí, xuất bản, dịch vụ văn hoá, thông
    tin trong phòng, chống mại dâm
    Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được sản xuất, lưu hành, vận chuyển, tàng
    trữ, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu, phổ biến những hình ảnh, vật phẩm, sản
    phẩm, thông tin có nội dung và hình thức đồi trụy, khiêu dâm, kích động tình
    dục.
     
    dục

    Điều 17. Quản lý sản xuất, lưu hành, sử dụng dược phẩm kích thích tình

    Cơ quan, tổ chức, cá nhân sản xuất, lưu hành, vận chuyển, tàng trữ, mua
    bán, xuất khẩu, nhập khẩu và sử dụng dược phẩm kích thích tình dục phải tuân
    theo quy định của pháp luật.
     
    Điều 18. Trách nhiệm kiểm tra, thanh tra
    1. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm kiểm tra, thanh tra cơ
    quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quy định tại các Điều 15, 16 và 17
    của Pháp lệnh này.
    2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện để cơ
    quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành kiểm tra, thanh tra việc phòng, chống
    mại dâm.
    3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng bị kiểm tra, thanh tra phải chấp
    hành nghiêm chỉnh quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
     
    Điều 19. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn trong
    phòng, chống mại dâm
    Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm:
    1. Tổ chức thực hiện phòng, chống mại dâm tại địa phương; lập hồ sơ,
    thống kê, phân loại đối tượng, cơ sở kinh doanh dịch vụ để có biện pháp phòng
    ngừa tệ nạn mại dâm;
    2. Tổ chức thực hiện việc quản lý, giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với
    người bán dâm và những người có hành vi liên quan đến mại dâm theo quy định
    của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
    Điều 20. Trách nhiệm của cơ sở chữa bệnh đối với người bán dâm
    Cơ sở chữa bệnh được thành lập theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
    có trách nhiệm:
    1. Tổ chức học tập, giáo dục đạo đức, lối sống; tổ chức dạy nghề, lao động
    sản xuất và hướng nghiệp; chữa bệnh, phục hồi sức khoẻ và tôn trọng danh dự,
    nhân phẩm, tính mạng, tài sản của người bán dâm được đưa vào cơ sở chữa
    bệnh;
    2. Phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc thực hiện quy
    định tại khoản 1 Điều này.
     
    Điều 21. Phát hiện, tố giác và đấu tranh trong phòng, chống mại dâm
    1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khi phát hiện các hành vi được quy định tại
    Điều 4 của Pháp lệnh này phải thông báo hoặc tố giác kịp thời với cơ quan nhà
    nước có thẩm quyền.

    Cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi nhận được thông tin, tố giác phải kịp
    thời xem xét, xử lý và thông báo kết quả xử lý cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đó
    khi có yêu cầu.
    2. Người phát hiện, tố giác, đấu tranh phòng, chống mại dâm được bảo vệ
    và giữ bí mật; trường hợp bị thiệt hại tài sản thì được đền bù; nếu bị thương tích,
    tổn hại về sức khoẻ hoặc bị thiệt hại về tính mạng thì được hưởng chế độ, chính
    sách theo quy định của pháp luật.
     
    CH ƯƠ NG III
    XỬ LÝ VI P H ẠM P H ÁP LUẬT VỀ PH Ò NG , CH Ố NG MẠI
    DÂM
     
    Điều 22. Xử lý đối với người mua dâm
    1. Người mua dâm tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành
    chính bằng hình thức cảnh cáo hoặc phạt tiền.
    2. Người mua dâm người chưa thành niên hoặc biết mình bị nhiễm HIV mà
    cố ý lây truyền bệnh cho người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
     
    Điều 23. Xử lý đối với người bán dâm
    1. Người bán dâm, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành
    chính, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở
    chữa bệnh. Người bán dâm là người nước ngoài thì tuỳ theo tính chất mức độ vi
    phạm mà bị xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo, phạt tiền, trục xuất.
    2. Người bán dâm biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền bệnh cho
    người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
     
    Điều 24. Xử lý đối với người có hành vi liên quan đến mại dâm
    1. Người bảo kê mại dâm, góp vốn để sử dụng vào mục đích hoạt động mại
    dâm thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc truy
    cứu trách nhiệm hình sự.
    2. Người môi giới mại dâm, chứa mại dâm, cưỡng bức bán dâm, tổ chức
    mại dâm, mua bán phụ nữ, trẻ em để phục vụ hoạt động mại dâm thì bị truy cứu
    trách nhiệm hình sự.
     
    Điều 25. Xử lý đối với tổ chức, cá nhân lợi dụng kinh doanh dịch vụ để
    hoạt động mại dâm
    1. Cơ sở kinh doanh dịch vụ lợi dụng hoạt động kinh doanh dịch vụ để hoạt
    động mại dâm thì bị phạt tiền và tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị tịch

    thu tang vật, phương tiện có liên quan trực tiếp đến hoạt động mại dâm, tước
    quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề.
    2. Người đứng đầu cơ sở kinh doanh dịch vụ do thiếu tinh thần trách nhiệm
    để hoạt động mại dâm xảy ra ở cơ sở do mình quản lý thì bị xử phạt hành chính;
    trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
     
    Điều 26. Xử lý đối với tổ chức, cá nhân phổ biến, tàng trữ, lưu hành các
    sản phẩm có nội dung và hình thức khiêu dâm
    1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực văn hoá, dịch vụ văn
    hóa, bưu chính, viễn thông có hành vi phổ biến, tàng trữ, lưu hành hình ảnh, vật
    phẩm, sản phẩm, thông tin có nội dung và hình thức đồi truỵ, khiêu dâm, kích
    động tình dục thì bị phạt tiền và tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị tước
    quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc không được tiến hành các
    hoạt động ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề.
    2. Người có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này thì tuỳ theo
    tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm
    hình sự.
     
    Điều 27. Xử lý đối với cán Bộ, công chức, người thuộc lực lượng vũ
    trang nhân dân vi phạm pháp luật về phòng, chống mại dâm
    1. Người có hành vi vi phạm quy định tại các điều 22, 23, 24, 25 và 26 của
    Pháp lệnh này là cán Bộ, công chức hoặc người thuộc lực lượng vũ trang nhân
    dân thì ngoài việc bị xử lý theo quy định tại các điều này còn bị thông báo cho
    người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người đó để
    giáo dục và xử lý kỷ luật.
    2. Cán Bộ, công chức hoặc người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân vi
    phạm pháp luật về phòng, chống mại dâm thì trong thời gian bị xử lý kỷ luật
    không được đề cử, ứng cử vào các cơ quan dân cử, tổ chức chính trị, tổ chức
    chính trị - xã hội; không được bổ nhiệm hoặc bổ nhiệm lại, bổ nhiệm vào các
    chức vụ tương đương hoặc cao hơn trong các cơ quan nhà nước hoặc trong lực
    lượng vũ trang nhân dân.
     
    Điều 28. Xử lý đối với người có hành vi vi phạm pháp luật khi thực hiện
    nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống mại dâm
    Người có nhiệm vụ trực tiếp đấu tranh phòng, chống mại dâm mà có hành
    vi bảo kê mại dâm, dung túng, bao che hoặc không xử lý kịp thời để cho hoạt
    động mại dâm xảy ra trên địa bàn quản lý thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm
    mà bị xử lý kỷ luật, chuyển làm công tác khác hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình
    sự; trường hợp gây thiệt hại thì cơ quan nơi người đó công tác phải có trách
    nhiệm bồi thường và người đã gây ra thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn theo quy
    định của pháp luật.

     
    Điều 29. Xử lý đối với người có hành vi bao che hoặc không kịp thời xử
    lý kỷ luật người vi phạm pháp luật về phòng, chống mại dâm
    1. Người có chức vụ, quyền hạn có hành vi bao che hoặc không kịp thời xử
    lý kỷ luật người thuộc quyền quản lý của mình có hành vi mại dâm, liên quan
    đến hoạt động mại dâm thì bị xử lý kỷ luật.
    2. Người có chức vụ, quyền hạn có hành vi bao che cho người thuộc quyền
    quản lý của mình đã có hành vi vi phạm quy định tại Điều 28 của Pháp lệnh này
    thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách
    nhiệm hình sự.
     
    CH ƯƠ NG IV
    Q UẢN LÝ NH À NƯỚ C VỀ CÔ NG TÁC P HÒ NG , CH Ố NG
    MẠI DÂM
     
    Điều 30. Nội dung quản lý nhà nước về công tác phòng, chống mại dâm
    Ban hành và tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật và kế
    hoạch phòng, chống mại dâm.
    Tổ chức Bộ máy quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực đội ngũ
    cán Bộ làm công tác phòng, chống mại dâm.
    Tổ chức và quản lý các cơ sở chữa bệnh, dạy nghề, tạo việc làm cho người
    bán dâm.
    Thống kê về phòng, chống mại dâm; huy động, quản lý và sử dụng các
    nguồn lực cho phòng, chống mại dâm; nghiên cứu và áp dụng khoa học phục vụ
    công tác phòng, chống mại dâm.
    Tổ chức đấu tranh phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác
    liên quan đến mại dâm.
    Tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về phòng, chống mại dâm.
    Hợp tác quốc tế về phòng, chống mại dâm.
    Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật
    về phòng, chống mại dâm.
     
    Điều 31. Cơ quan quản lý nhà nước về công tác phòng, chống mại dâm
    dâm.

    1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác phòng, chống mại

    2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì cùng Bộ Công an phối hợp
    với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ giúp Chính phủ thống
    nhất quản lý nhà nước về công tác phòng, chống mại dâm.

    3. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi
    nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện và phối hợp với
    các cơ quan hữu quan trong công tác phòng, chống mại dâm.
    4. Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
    có trách nhiệm thực hiện việc quản lý nhà nước về công tác phòng, chống mại
    dâm ở địa phương.
     
    Điều 32. Trách nhiệm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
    Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với các cơ quan, tổ chức
    có liên quan xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, kế hoạch về phòng,
    chống mại dâm; thống kê, kiểm tra, thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo về
    phòng, chống mại dâm; thực hiện hợp tác quốc tế về phòng, chống mại dâm theo
    sự phân công của Chính phủ.
     
    Điều 33. Trách nhiệm của Bộ Công an
    Bộ Công an có trách nhiệm tổ chức đấu tranh phòng, chống tội phạm về
    mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em để phục vụ hoạt động mại dâm và các vi
    phạm pháp luật có liên quan đến mại dâm; chỉ đạo lập hồ sơ, đưa người bán dâm
    vào cơ sở chữa bệnh và hỗ trợ cơ sở chữa bệnh giữ gìn trật tự, an ninh; phối hợp
    với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, các Bộ, ngành liên quan trong việc
    chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện việc quản lý, giáo dục người bán dâm,
    người có hành vi liên quan đến mại dâm tại cộng đồng, kiểm tra, thanh tra và xử
    lý các cơ sở kinh doanh dịch vụ có vi phạm pháp luật về phòng, chống mại dâm.
     
    Điều 34. Trách nhiệm của Bộ Văn hoá - Thông tin, Bộ Y tế, Bộ Thương
    mại, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cục Du lịch
    1. Bộ Văn hoá - Thông tin, Bộ Y tế, Bộ Thương mại, Tổng cục Du lịch trong
    phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, tổ
    chức các hoạt động phòng, chống mại dâm thuộc lĩnh vực, ngành; quản lý các cơ
    sở kinh doanh dịch vụ; phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các
    Bộ, ngành có liên quan tổ chức kiểm tra, thanh tra và xử lý các cơ sở kinh doanh
    dịch vụ thuộc ngành quản lý có vi phạm pháp luật về phòng, chống mại dâm.
    2. Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm phối hợp với Bộ Lao động Thương binh và Xã hội trong việc chỉ đạo, xây dựng chương trình, nội dung
    giáo dục về phòng, chống mại dâm trong nhà trường và các cơ sở giáo dục khác.
     
    Điều 35. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp và Chủ tịch Uỷ ban
    nhân dân các cấp
    1. Uỷ ban nhân dân các cấp lập kế hoạch phòng, chống mại dâm hàng năm
    trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định; bố trí kinh phí và huy động các

    nguồn lực cho công tác phòng, chống mại dâm; chỉ đạo, tổ chức thực hiện công
    tác phòng, chống mại dâm; báo cáo kết quả thực hiện công tác này với Hội đồng
    nhân dân cùng cấp và Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp.
    2. Hàng năm, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương báo
    cáo Chính phủ về công tác phòng, chống mại dâm tại địa phương.
    3. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm về công tác phòng,
    chống mại dâm tại địa phương do mình quản lý.
     
    Điều 36. Kiểm tra, thanh tra về phòng, chống mại dâm
    Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các
    cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức kiểm
    tra, thanh tra, phát hiện và xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về phòng,
    chống mại dâm. Trong trường hợp cần thiết, Uỷ ban nhân dân các cấp thành lập
    thanh tra liên ngành để thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống
    mại dâm ở địa phương.
     
    Điều 37. Kinh phí cho công tác phòng, chống mại dâm
    Nhà nước bố trí kinh phí, có chính sách sử dụng nguồn thu từ việc xử lý
    các vi phạm pháp luật về phòng, chống mại dâm và huy động các nguồn lực
    khác cho công tác phòng, chống mại dâm.
     
    CH ƯƠ NG V
    K H EN TH ƯỞ NG VÀ K H IẾU NẠI, TỐ CÁO
     
    Điều 38. Khen thưởng
    Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác phòng, chống mại
    dâm thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật.
     
    Điều 39. Khiếu nại, tố cáo và trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo
    1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại đối với quyết định xử lý
    của người có thẩm quyền trong việc phòng, chống mại dâm khi có căn cứ cho
    rằng quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của
    mình.
    2. Công dân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống
    mại dâm.
    3. Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền chịu trách nhiệm giải quyết
    khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật.
     

    CH ƯƠ NG VI
    ĐIỀU K H O ẢN TH I H ÀNH
     
    Điều 40. Hiệu lực thi hành
    Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2003.
    Những quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bị bãi bỏ.
     
    Điều 41. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
    Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này.
    TM. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
    CHỦ TỊCH
    (Đã ký)
    Nguyễn Văn An
     
    Gửi ý kiến

    KÍNH CHÀO QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ GHÉ TƯỜNG WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS NGÔ MÂY!

    Những quyển sách làm say mê ta đến tận tủy, chúng nói chuyện với ta, cho ta những lời khuyên và liên kết với ta bởi một tình thân thật sống động và nhịp nhàng.