Ý nghĩa của sách trong cuộc sống
Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Thẩm
Ngày gửi: 17h:52' 11-03-2024
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Thẩm
Ngày gửi: 17h:52' 11-03-2024
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Chia sẻ ebook : Chiasemoi.com
NHẬT KÝ ĐẶNG THUỲ TRÂM
Lời giới thiệu
Câu chuyện về những tấm lòng
NHỮNG NGÀY RỰC LỬA
QUYỂN MỘT
1969
Năm qua thắng lợi vẻ vang
Nơi ấy là khoảng trời anh ở
QUYỂN HAI
ĐẰNG SAU CUỐN NHẬT KÝ
Liệt sĩ – bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm sinh ngày 26 tháng 11 năm 1942, trong một
gia đình trí thức. Bố là bác sĩ ngoại khoa Đặng Ngọc Khuê, mẹ là dược sĩ Doãn
Ngọc Trâm – Nguyên giảng viên trường Đại học Dược khoa Hà Nội.
Tốt nghiệp trường Đại học Y khoa Hà Nội năm 1966, Thuỳ Trâm xung
phong vào công tác ở chiến trường B. Sau ba tháng hành quân từ miền Bắc,
tháng 3 năm 1967 chị vào đến Quảng Ngãi và được phân công về phụ trách bệnh
viện huyện Đức Phổ, một bệnh viện dân y nhưng chủ yếu điều trị cho các thương
bệnh binh.
Chị được kết nạp Đảng ngày 27 tháng 9 năm 1968.
Ngày 22 tháng 6 năm 1970, trong một chuyến công tác từ vùng núi Ba Tơ về
đồng bằng, chị bị địch phục kích và hy sinh anh dũng lúc mới chưa đầy 28 tuổi
đời, 2 tuổi Đảng và 3 năm tuổi nghề.
Hài cốt của chị được đồng bào địa phương na táng tại nơi chị ngã xuống và
luôn hương khói. Sau giải phóng, chị được gia đình và đồng đội đưa về nghĩa
trang Liệt sĩ xả Phổ Cường. Năm 1990, gia đình đã đưa chị về yên nghĩ tại nghĩa
trang Liệt sĩ xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội.
Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu hai cuốn nhật ký của Liệt sĩ Đặng Thuỳ
Trâm ghi trong những ngày ở chiến trường. Bản thân hai cuốn nhật ký này cũng
có một số phận kỳ lạ: chúng rơi vào tay những con người có lương tri bên kia
chiến tuyến, được họ giữ gìn và tìm mọi cách để đưa về cho gia đình chị. Sau
hơn một phần ba thế kỷ lưu lạc, đúng vào dịp kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng
miền Nam thống nhất đất nước (30.4.2005), nó đã trở về với gia đình liệt sĩ.
Hiện cuốn nhật ký được lưu giữ tại Viện Lưu trữ về Việt Nam ở Lubbock, Texas,
Mỹ.
Trong quá trình biên soạn và chỉnh lý, chúng tôi cố gắng tôn trọng nguyên
bản câu văn cũng như những thói quen dùng từ và ngữ pháp của tác giả - chỉ sửa
lại một số từ địa phương hoặc lược bớt những từ trùng lặp. Chúng tôi cũng chú
giải một số điểm cần thiết để bạn đọc có thể hiểu hơn hoàn cảnh cũng như lịch
sử và bản thân tác giả.
Ngoài ra, trong phần ảnh tư liệu, được phép của những người có liên quan,
chúng tôi có sử dụng những bức ảnh trong album gia đình, ảnh chụp ở Quảng
Ngãi trong những năm 1969 – 1970 do Frederic Whitehurst cung cấp và một số
bức ảnh do liệt sĩ Nguyễn Văn Giá – Phóng viên hãng phim Thời sự - Tài liệu
Việt Nam chụp tháng 10.1969 ở thôn Nga Mân, xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ Quảng Ngãi trước khi anh hy sinh.
Lời giới thiệu
Thời chống Mỹ từng có một bác sĩ,
một con người, tên là Đặng Thuỳ Trâm…
Tác giả những dòng nhật ký sua đây bạn đọc sẽ đọc thuộc về một lớp người
khá đặc biệt trong đời sống tinh thần xã hội ta từ sau 1945 - họ có mặt trong
công cuộc chiến đấu chống Mỹ từ mấy năm đầu tiên, khi ở miền Nam, các cơ sở
cách mạng triển khai đến tận nhiều huyện đồng bằng, và trên toàn quốc, cuộc
chiến tranh dù đã gian khổ nhưng chưa có cái không khí bức bối khắc nghiệt như
từ đầu những năm 70 trở đi.
Và một điều đáng nói nữa: trước đó, họ thuộc lứa thanh niên đầu tiên được
đào tạo theo tinh thần của những người đi kháng chiến chống Pháp, cái tinh thần
“cuộc sống mới”, ấp ủ từ những ngày Việt Bắc gian khổ mà hào hùng
Hà Nội trước chiến tranh thanh bình, yên ả lạ thường. Bao trùm xã hội là một
không khí thiêng liêng, thành kính. Ngay đối với người dân thường mọi chuyện
làm ăn sinh sống chỉ có ý nghĩa là sự chuẩn bị cho ngày mai có mặt ở chiến
trường. Nền kinh tế tem phiếu chưa làm mấy ai khó chịu. Trong tâm trí đám học
trò chúng tôi (tôi với Thùy Trâm vốn học cùng lớp trong suốt ba năm cấp ba ở
trường Chu Văn An, nên dưới đây, việc dùng chữ chúng tôi là có một lý do
chính đáng) lúc nào cũng thấm đẫm tinh thần lãng mạn của Ruồi trâu, của Pavel
Korsaghin trong Thép đã tôi thế đấy và cả của Marius và Cosette trong Những
người khốn khổ. Sách vở lúc ấy là đồng nghĩa với văn hoá. Thêm một điã nhạc
cổ điển, với một vài bông hoa trên bàn nữa thì coi như mãn nguyện hoàn toàn.
Có mặt trong đám đông dự mít tinh ở quảng trường Ba Đình trong một ngày lễ
lớn (trước 1965, những ngày lễ lớn bao giờ cũng có mít tinh, đâu cả chục ngàn
người), anh bạn tôi mặt ngẩng cao dõi theo mấy cánh chim bay mãi vào những
đám mây xa. Đêm giao thừa ngay khi có chiến tranh rồi thì mấy ngày Tết vẫn có
ngừng bắn, cũng như mọi người, chúng tôi dắt xe đạp đi bộ quanh Hồ Gươm
trong tiếng nhạc dập dìu của mấy bài Hà Nội Huế Sài Gòn, Tiếng hát giữa rừng
Pắc Bó…
Và có thể nói mà không sợ ngoa là từ đấy, nhiều người đi thẳng ra chiến
trường.
Nhật ký tôi viết mấy năm ấy còn ghi lại được hình ảnh về những người lính
ớ đánh Khe Sanh 1967: Quần áo ba lô người nào cũng tinh tươm, niềm tin sáng
bừng trong mắt, chỉ sợ không đi thì lỡ mất dịp có mặt trong lễ chiến thắng.
Một niềm tin tưởng như chỉ có ở tôn giáo - thứ niềm tin mang đầy cảm giác
thánh thiện - chi phối hành động mọi người. Lao vào chiến tranh lúc ấy không
phải chỉ là nghĩa vụ mà còn là niềm ao ước, là vinh dự mà nhiều anh em chúng
tôi cảm thấy phải giành lấu bằng được.
Tốt nghiệp đại học 1966, Thuỳ Trâm lại xung phong đi khá xa, vào tận Đức
Phổ, Quảng Ngãi. Ở đó chị làm công việc đặc trưng cho người phụ nữ trong
chiến tranh là phụ trách một bệnh viện huyện, và từ đó tạo nên cho mình một số
phận.
Không phải ngẫu nhiên, hai người lính thám báo Mỹ hôm qua, trong bức thư
gởi tới người mẹ của liệt sĩ vừa viết mới đây, khẳng định một cách chắc chắn
như đinh đóng cột: “Trên bất cứ đất nước nào trên thế giới, điều đó đều được gọi
là anh hùng”
Họ muốn nói tới cái sự việc từng ám ảnh họ một thời gian dài: người bác sĩ
này đã đứng ra cầm súng bảo vệ cho những thương binh, và đã ngã xuống như
một người lính vừa rời tay súng.
Tuy nhiên, theo tôi, trước khi để cái hành động dũng cảm cuốn cùng Thuỳ
Trâm “đóng đinh” vào tâm trí mình, những người lính bên kia chiến tuyến thật ra
đã bị chinh phục. Phải có một nhân tố nào nữa, thiết yếu hơn, khiến họ tự nhủ
phải cứu bằng được cuốn nhật ký rồi bị hút theo chị, mải miết tìm cách giải mã
những dòng chữ chị ghi và sau này còn để rất nhiều thời gian lần theo dấu vết
của chị.
Chỉ có toàn bộ con người Thuỳ Trâm mới đóng nổi vai trò đẹp đẽ đó.
Gần đây, khi đi ra với thế giới, nhiều người trong chúng ta chợt hiểu ra một
sự thực: hai chữ Việt Nam bấy lâu mới chỉ gắn với một cuộc chiến tranh. Và
chúng ta còn phải phấn đấu nhiều để người ta hiểu rằng việt Nam còn là một xã
hội, một đất nước, một nền văn hoá.
Ngay từ lúc ấy, trong vai trò một chiến sĩ, Thuỳ Trâm đã tự chứng tỏ mình
mình còn là một con người với nghĩa rộng rãi nhất của từ này.
Một mặt, chị có ý thức về bổn phận. Chị yêu thương mọi người. Chị đau nỗi
đau của mỗi bệnh nhân đến với mình. Chị muốn trở thành một người tốt. Những
cách nói mà với một số bạn trẻ ngày nay tưởng như là công thức (chẳng hạn trái
tim đập cùng một nhịp với nhân dân đất nước, chẳng hạn niềm yêu thương vô
hạn độ) chính là những lẽ sống đã được Thuỳ Trâm tự nguyện chấp nhận.
Mặt khác,chị vẫn dành riêng cho mình một cuộc sống riêng tư. Chị tha thiết
với thiên nhiên cây cỏ. Một phần tháng ngày của chị được dệt bằng những vui
buồn của quá khứ. Trong khi thất bại trong tình cảm riêng. con người này lại biết
tìm ra ngay từ bằng người chung quanh những yếu tố tốt đẹp, rồi lý tưởng hoá
thêm lên để biến họ thành những biểu tượng sinh động, bù đắp cho một cuộc
đống nội tâm vốn quá dồi dào, quá nồng nhiệt.
Có một quy ước những ai ở vào lứa tuổi chúng ta đều biết và tự nguyện ghi
nhớ, tự nguyện tuân theo, đó là không nên nói nhiều đến cô đơn cùng nỗi buồn.
Sự phức tạp của tình cảm lại càng là điều cấm kỵ.
Cái gì cũng phải rành rẽ. Đơn giản. Rõ ràng - cái kiểu rõ ràng thô thiển một
chiều. Về phần mình mặc dù là con người hết lòng tin vào lý tưởng, song Thuỳ
Trâm không bị những luật lệ không ghi thành văn bản ấy ràng buộc. Với sự nhạy
cảm của một trí thức, chị lắng nghe trong mình mọi băn khoăn xao động. Chị
không xa lạ với những phân vân khó xử. Trong nhật ký, người nữ bác sĩ ghi ra
gần hết tất cả những cung bậc tình cảm mà ai người ở vào địa vị ấy đều trải qua,
và có cảm tưởng chỉ làm như vậy mới tìm được sự cân bằng cần thiết.
Tuy cái chết không được miêu tả nhiều trong nhật ký, nhưng trong tâm trí
Thuỳ Trâm, nó luôn luôn có mặt. Nó đứng thấp thoáng đằng sau các sự kiện, và
cuộc đối diện với cái chết làm nên một phần nội dung cuộc sống, tức cũng là làm
nên vẻ đẹp cao thượng của con người lúc đó mới 27 tuổi này. Đọc nhiều trang,
nhất là nửa phần viết về sau, khi đề cập tới nhiều hy sinh mất mát, tôi không
khỏi liên tưởng đến nhiều tác phẩm văn học có liên quan tới cùng một chủ
đề.Đây là một bài thơ mà nhà thơ Nga Aleksei Surkov đã viết trong cuộc chiến
tranh chống Phát xít:
Trong hầm ta ánh lửa sáng ngời
Từng thanh củi bọt sùi như lệ ứa
Tiếng đàn dạo một điệu trầm và nhẹ
Ca ngợi mắt em ca ngợi nụ cười em
Anh ở đây trên tuyết gần Mạc Tư Khoa
Những hàng dương đang ngọt ngào thầm thĩ
Cái bản tình ca anh vừa hát ấy
Bản tình ca buồn anh mong được em nghe
Giữa đôi ta dù xa cách mênh mong
Dù cái chết đến gần anh mấy bước
Dù có cả một cánh đồng băng tuyết
Trên đương dài ta vẫn đến gặp nhau
Ta hát ta đàn ta dẹp yên bão táp
Hạnh phúc mất ở ta dẫn nó trở về
Tình yêu sưởi chiến hào thêm ấm áp
Tình yêu này sáng mãi giữa tim anh.
Tôi dự đoán là đã có những lúc Thuỳ Trâm sống cái cảm giác mà bài thơ
diễn tả, dù là không biết gì về nó. Hồi ở Hà Nội, chị cũng rất thích âm nhạc và
thường quan âm nhạc để hình dung ra những gì thiết yếu của đời sống - sự hoà
hợp, tình yêu, hạnh phúc.
* * *
Ngoài những Thép đã tôi thế đấy, Ruồi trâu, thơ Từ ấy của Tố Hữu , thơ Đợi
anh về của Simonov, vào những ngày đọc lại nhật ký của Đặng Thuỳ Trâm để
góp phần chỉnh lý và biên tập lại thành một cuốn sách, thường trong đầu óc tôi
còn trở đi trở lại một vài tác phẩm nước ngoài khác, đặc biệt là trường hợp Nhật
ký Anne Frank.
Chỗ giống nhau đầu tiên: Đây đều là những tác phẩm viết về con người đối
diện với chiến tranh. Trong cuộc sống khó khăn của một người bị ép phải chui
nhủi trong một nơi ẩn náu, cô thiếu nữ Do Thái mang tên Anne Frank vẫn tìm đủ
không gian để thể nghiệm mọi cảm giác làm người bình thường, và điều đó làm
cô tự hào.
"Tôi có cái can đảm sống khác thường. Tôi luôn luôn cảm thấy mình sao
khoẻ thế, sao tự do và trẻ trung thế."
"Thật lạ cho điều này: tôi chưa bao giờ rời bỏ hy vọng. Chúng có vẻ phi lý
và khó thành tựu. Song mặc tất cả, tôi vẫn bám vào chúng. Vì tôi tiếp tục tin vào
lòng tốt thiên bẩm của con người."
Những dòng chữ đơn giản đó hoàn toàn có thể đặt lẫn vào nhật ký Thuỳ
Trâm mà không gượng gạo.
Còn một đếm nữa làm nên sự gần gũi giữa Thuỳ Trâm với Anne Frank, nó
cũng là lý do khiến bọn tôi chọn cho tập ghi chép của chị cái tên đơn giản như
hiện nay, đó là cái thể loại mà họ sử dụng - thể nhật ký.
Trong đời sống không thiếu gì những người khi bước vào đời háo hức định
ghi nhật ký để rồi nửa đường đứt gánh bỏ dở. Khi bắt tay viết họ thường tự nhỉ
mình sẽ thành thực với mình. Có biết đâu cái tôi của họ nghèo nàn nên đó là một
sự thành thực vô nghĩa. Và họ không sao tìm đủ nghị lực duy trì nhật ký đến
cùng.
Anne Frank thú nhận:
“Điều tuyệt diệu nhất là tôi có thể viết ra tất cả những gì cảm nghĩ bằng
không sẽ chết ngạt mất".
“Những người nào không viết không biết được những kỳ ảo của nó. Ngày
xưa tôi luôn luôn đau đớn vì không biết vẽ; nhưng bây giờ lòng tôi phơi phới vì
ít ra tôi đã có thể viết”.
Thuỳ Trâm không có những tuyên bố hùng hồn như vậy, nhưng quả thật với
chị, nhật ký đã trở thành một phần cuộc đời. Trong nhật ký chị tìm ra một con
người khác với một Thuỳ Trâm mọi người vẫn biết hằng ngày. Để chia sẻ. Để
thú nhận. Để tìm thêm niềm tin. Và đôi khi như là để làm nũng với mình một
chút, lối làm nũng chỉ chứng tỏ rằng vẫn có một thế giới riêng của mình mà
không ai thông cảm hết.
Tất cả những yếu tố đó làm nên sức hấp dẫn của những trang nhật ký. Với
chị, cái hấp dẫn ấy giúp chị có đủ hào hứng ghi chép một cách đều đặn. Với
người đọc hôm nay, nó làm nên sức cuốn hút của những tâm sự, mặc dù trong
hoàn cảnh đổi khác, mọi người đã nghĩ khác.
Do đặc điểm riêng của chiến tranh, ngay từ những ngày ấy, bao nhiêu công
sức chúng ta để cả vào việc động viên nhau ra trận. Còn chính cuộc sống mỗi
người trong lúc đó thì mới được ghi chép rất ít. Ba mươi năm sau, sự “tiêu hoá”
vẫn dừng lại ở trình độ cũ. Mỗi khi nói về chiến thắng, ta vẫn chỉ biết nói với
nhau những lời lẽ mọi người đã từng nghe mấy chục năm trước. Tại sao? Phần
thì những sôi động để kiếm sống để tồn tại lúc nào cũng cuốn hút mọi người.
Phần nữa cũng là bởi ta chưa có ý thức đầy đủ về lịch sử, về sự có mặt của quá
khứ trong hiện tại. Công tác tổng kết về chiến tranh quá chậm, các bộ phận lịch
sử chiến tranh không hoạt động như đáng lẽ phải hoạt động. Mỗi người bình
thường chưa được gợi ý thu thập lại các tài liệu đã ghi hoặc tìm tòi lại lục khi lại
trong ký ức những kỷ niệm xưa để viết ra thành những hồi ký có giá trị chân
thực.
* * *
Ngay sau khi biết rằng đây là một cuốn nhật ký viết trong chiến tranh, có thể
có bạn đọc - nhất là bạn đọc trẻ - sẽ hỏi: Lại cho chúng tôi một tấm gương để
bảo chúng tôi học theo chứ gì?
Không đâu bạn ạ! Ở đây bạn sẽ không tìm thấy những lời khuyên nhủ mà chỉ
bắt gặp một con người với một cuộc sống cụ thể của thời chiến. So với lớp thanh
niên ngày nay, người thanh niên của gần bốn chục năm trước có một cách sống
khác, một cách sống không lắm chiều cạnh phong phú, không tự do nhiều vẻ,
nhưng lại trong sáng thánh thiện
đến kỳ lạ. Sự tận tụy làm người của Thuỳ Trâm là nhân tố khiến cho những
người lính Mỹ khác hẳn về lý tưởng cũng phải kính trọng. Còn với chúng ta, tin
rằng nó cũng có những hiệu ứng tương tự.
Trong cuốn lịch sử văn học thế kỷ XX đang có trong tay, tôi bắt gặp một
nhận xét của A. Malraux: "Điều huyền bí hơn cả không phải là chúng ta bị ném
vào mớ hỗn độn vật chất cùng với hành tinh, mà là trong “lao tù” đó, chúng ta
rút tỉa từ bản thân cá nhân mình những nhân tố con người - nó cần vừa đủ để cái
hư không sẵn có trong chúng ta bị phủ nhận”
Câu nói mang trong mình nó nhiều triết lý, mà một trong những triết lý đó là:
trong sự muôn mày muôn vẻ của thực tại, con người vẫn là mẫu số chung làm
nên những giá trị vĩnh cửu.
Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm có cái nhân tố nhân văn đầy bí mật đó. Nếu cuốn
sách có thể giúp mỗi người sau khi đọc xong quay trở tại tìm ra những thiết tha
cao đẹp và cả những cay đắng bi thảm có thể có trong kiếp người của chính
mình, tức là sự hy sinh của một con người ở 27 có thêm một ý nghĩa chân chính.
VƯƠNG TRÍ NHÀN
Câu chuyện về những tấm lòng
Sáng 25-4-2005, tôi nhận được một cú điện thoại bất ngờ. Đó là điện thoại
gọi đến từ văn phòng Quaker Hà Nội. Người của văn phòng báo tin hiện có một
người Mỹ đang giữ cuốn nhật ký của chị gái tôi - liệt sĩ Đặng Thùy Trâm. Chị
Thùy của chúng tôi.
Chị tôi hi sinh năm 1970 tại chiến trường Quảng Ngãi. Cống hiến của chị tôi
ghi trong hồ sơ đề nghị truy tặng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì
rất đơn sơ: bác sĩ, hi sinh tại chiến trường. Thời gian công tác: năm năm, ba
tháng, năm ngày...
Những kỷ vật còn lại của chị tôi do đồng đội gửi về chỉ gồm mấy tấm ảnh,
một số thư của gia đình từ miền Bắc gửi vào. Các anh cũng nói chị tôi có ghi
nhật ký – đó là thói quen của chị tôi từ nhỏ - nhưng đã bị giặc lấy đi trong một
trận càn.
* * *
Trung tuần tháng 3-2005, một cuộc hội thảo thường niên về chiến tranh VN
được tổ chức tại Trung tâm Việt Nam - Đại học Texas, Mỹ. Rất nhiều người đến
dự. Tại hội thảo, người ta thảo luận về chiến tranh VN ở nhiều khía cạnh khác
nhau. Frederic Whitehurst và Robert Whitehurst đã đến với bài nói về nhật ký
của một nữ bác sĩ Việt cộng mà Frederic nhận được khi tham gia chiến tranh ở
VN. Sự kiện thu hút được sự chú ý của người nghe qua lời kể xúc động của Fred
về quá trình từ lúc nhận được cuốn nhật ký cho tới lúc quyết định tặng nó cho
viện lưu trữ về Việt Nam ở Lobbock, cũng như qua những trang nhật ký đầy tình
yêu thương và khát vọng hoà bình đã được Robert dịch sang tiếng Anh. Buổi hội
thảo kết thúc, mọi người xôn xao đặt ra nhiều câu hỏi, nhiều người ngỏ ý muốn
giúp Fred tìm gia đình nữ bác sĩ.
Ted Engelmann là một trong những người có mặt ở hội thảo. Ba ngày sau khi
hội thảo kết thúc, Ted sang VN. Ở Hà Nội, anh đã nhờ một người bạn làm ở văn
phòng Quaker Hà Nội tìm giúp gia đình bác sĩ Đặng Ngọc Khuê. Những nhân
viên ở đây rất nhiệt tình, lần theo manh mối ít ỏi có trong cuốn nhật ký, họ đã
tìm sang tận Đông Anh, nơi bố tôi làm việc từ gần 50 năm trước. Nhưng ở đó,
người duy nhất làm việc cùng thời với bố tôi cũng đã nghỉ hưu từ năm 2000.
Bệnh viện Đông Anh cử người về tận quê ông để hỏi địa chỉ gia đình tôi. Ông lại
chỉ sang Trường đại học Dược Hà Nội, nơi mẹ tôi công tác trước khi về nghỉ hưu
từ 20 năm trước. Cứ như thế, bao trái tim nhân hậu đã chuyển tiếp cho nhau tín
hiệu để cuối cùng giúp Ted tìm được gia đình tôi và trao lại chiếc đĩa CD chứa
đựng tâm huyết của người viết nhật ký 35 năm về trước.
Những ngày sau đó tôi nhận được rất nhiều thư của hai anh em Frederic
Whitehurst và Robert Whitehurst. Họ kể về những năm tháng ở VN và hành
trình bao năm qua họ đã tìm kiếm gia đình tôi như thế nào. Có những lúc họ
tưởng như tuyệt vọng không thể nào tìm được gia đình tôi, đã sợ rằng khi họ
chết đi, hai cuốn nhật ký của chị tôi sẽ nằm trong đống giấy má bình thường
không ai biết đến, bị quẳng đi, bị mục nát, bị quên lãng. Họ nói với tôi rằng vì
không còn hi vọng tìm được gia đình tôi, họ đã có ý định in hai cuốn nhật ký
thành sách để cả thế giới được biết về một nữ bác sĩ cộng sản người Hà Nội đã
sống và đã chết ra sao. Họ mong rằng từ cuốn sách đó sự nghiệp y tế của chị tôi
sẽ còn được tiếp nối... Và trong nỗi tuyệt vọng như thế, họ đã trao tặng hai cuốn
nhật ký cho Viện lưu trữ về VN Lubbock tại Trường đại học Tổng hợp Texas, để
chúng có thể được gìn giữ và chăm chút hơn khả năng họ có thể làm được.
Dưới đây là bức thư đầu tiên của Fred gửi cho tôi:
“Thứ sáu 29-4-2005
Tôi là Frederic Whitehurst. Tôi đã giữ ký ức về chị cô, bác sĩ Đặng Thùy
Trâm, 35 năm nay. Tôi đã giữ cuốn nhật ký của chị ấy suốt 35 năm. Ted
Engelmann - người tôi chỉ mới vừa biết - nói với tôi rằng anh ấy đã đến nhà cô
và hiện nay cô đã nhận được bản copy của hai cuốn nhật ký cùng những bức
ảnh. Có bao nhiêu điều tôi phải nói với cô, với gia đình cô và đặc biệt là với mẹ
cô. Sau bao nhiêu năm tìm kiếm, điều này giống như một giấc mơ và việc tìm ra
gia đình cô khiến tôi bật khóc. Một người mẹ phải được biết về những ngày
tháng của con gái mình, một đất nước phải được biết về một người anh hùng
như bác sĩ Đặng. Mọi việc dường như thật thích hợp, mẹ cô cần phải nhận được
những dòng chữ của con gái mình đúng vào dịp kỷ niệm 30 năm giải phóng đất
nước bà - 30-4-2005...”.
Frederic Whitehurst - thường gọi là Fred là một sĩ quan quân báo Mỹ tham
chiến ở chiến trường Đức Phổ, Quảng Ngãi từ năm 1969-1971. Trong chiến
tranh, nhiệm vụ của Fred là thu thập các thông tin, tài liệu có giá trị quân sự để
phân tích tình hình, truy tìm dấu tích quân giải phóng, định hướng tập kích hay
càn quét. Nhiệm vụ đó khiến Fred có thể nhìn cận cảnh cuộc chiến tranh và
chứng kiến tận mắt những mất mát khủng khiếp - cả đối với phía VN lẫn phía
Mỹ. Fred đã chứng kiến cảnh “cả một xóm nhỏ Nhơn Phước ở miền tây Đức
Phổ bị bom giội tan hoang không còn một người sống” (thư ngày 4-6-2005).
Fred đã nhìn thấy những em nhỏ ở Chu Lai bị thiêu cháy trong bom napalm.
Fred đã chứng kiến viên trung úy chỉ huy trực tiếp của mình gần như mất trí vì
không chịu nổi cảnh các nhân viên y tế Mỹ “đơn giản cứ nhặt bừa bất kỳ một
cánh tay, cẳng chân nào đó lắp vào xác bạn mình cho vào quan tài gửi về Mỹ”
(thư ngày 4-6-2005). Những cảnh chứng kiến đó đã ám ảnh Fred trong bao năm
nay từ khi rời VN trở về.
Nhưng cũng từ những ngày khốc liệt đó, Fred đã nhìn thấy cuộc chiến tranh
từ một ánh sáng hoàn toàn khác biệt.
Trong một trận tập kích vào một “căn cứ của Việt cộng”, sau khi tiếng súng
đã im, đơn vị của Fred tiến vào và nhận thấy đây là một bệnh viện nhỏ. Có rất
nhiều lán trại, nhiều phòng - rõ ràng là phòng bệnh, cả một phòng mổ dã chiến.
Có vẻ mọi người trong bệnh viện đã vội vã đi khỏi ngay trước khi quân Mỹ ập
tới và không kịp mang theo tài liệu.
Theo qui định của quân đội Mỹ, mọi tài liệu của địch thu được trên chiến
trường phải chuyển lại cho bộ phận quân báo nghiên cứu. Hôm đó Fred thu nhặt
được rất nhiều tài liệu. Cùng với thông dịch viên người Việt, Fred chọn lọc các
tài liệu có giá trị quân sự, số còn lại họ vứt vào đống lửa để thiêu hủy.
Fred đang đốt những tài liệu loại bỏ thì thượng sĩ Nguyễn Trung Hiếu thông dịch viên của đơn vị - cầm một cuốn sổ nhỏ đến cạnh anh và nói: “Fred,
đừng đốt cuốn sổ này. Bản thân trong nó đã có lửa rồi”. Fred chưa hiểu đó là
cuốn sổ gì, nhưng vẻ xúc động của Hiếu và việc Hiếu có thể kính trọng cả đối
phương tác động rất mạnh đến anh, Fred bỏ cuốn sổ vào túi.
Nhiều đêm sau đó Fred và Hiếu cùng nhau đọc cuốn sổ. Đó là nhật ký của
một Việt cộng, chính là nữ bác sĩ đứng đầu cái bệnh viện nhỏ mà đơn vị Fred
càn vào. Nét chữ nghiêng nghiêng đầy nữ tính. Anh càng tò mò hơn khi Hiếu
cho biết nữ bác sĩ đó còn rất trẻ, mới 26 tuổi và từ Hà Nội vào Đức Phổ công tác
chưa được hai năm.
Rồi như một định mệnh, mấy tháng sau Fred nhận được cuốn nhật ký thứ hai
của nữ bác sĩ, cũng do Nguyễn Trung Hiếu đem về. Những dòng chữ rực lửa
khiến Fred vô cùng xúc động - mặc dù anh chỉ được nghe qua lời dịch vội của
Nguyễn Trung Hiếu và đó là những dòng chất chứa căm thù đối với quân Mỹ.
Những dòng đầy yêu thương, hi vọng khiến anh vô cùng ngạc nhiên. Anh không
hiểu nổi bắt nguồn từ đâu mà một người con gái có thể nhìn thấy cái đẹp của
màu xanh giữa chiến trường mịt mù bom đạn, vì sao cô ấy có thể nghe nổi bản
giao hưởng êm đềm khi quân Mỹ gần như luôn bám sát sau lưng.
Năm 1972, Fred được rời VN và trở về Mỹ. Trong hành lý của anh có những
kỷ vật nặng trĩu của chiến tranh: hai cuốn nhật ký của nữ bác sĩ, hơn 50 tấm ảnh
chụp những người dân Quảng Ngãi trong chiếc máy ảnh Canon bị bắn thủng lấy
được trên xác một phóng viên Việt cộng, chiếc đục nhỏ rơi bên xác một người
thợ mộc già bị giết hại. Cũng từ đó VN trở thành một nỗi ám ảnh trong anh.
Năm tháng trôi qua, với những ám ảnh về chiến tranh, về tội ác đã được
chứng kiến ở Việt Nam đè nặng trong tim, Fred đã nhiều lần quay lưng lại với
cái xấu, không chấp nhận cái xấu – dù chỉ là gián tiếp. Anh đã tìm được nhiều
điều tốt đẹp, đã từng kiện cả Cục điều tra Liên bang Mỹ (FBI), cả giám đốc FBI,
cả chính phủ Mỹ vì những việc làm sai trái và đã thắng tất cả những thế lực đó
trong một vụ kiện nổi tiếng cả trong nước Mỹ lẫn trên thế giới. Một lúc khác tôi
sẽ nói thêm nhiều về anh.
Mẹ của Fred là một nhà giáo và là họa sĩ. Khi Fred cho mẹ xem cuốn nhật
ký, bà đã bảo con trai hãy cẩn thận, bởi vì hai cuốn sổ này có thể thiêu cháy cuộc
đời anh.
Quả vậy, trái tim Fred luôn bị nung ngấu vì ngọn lửa toả ra từ hai cuốn sổ
nhỏ ố vàng. Anh không thể nào ngủ yên mà cứ trăn trở muốn làm một cái gì vì
người nữ bác sĩ ấy. Chị còn sống hay đã chết? Nếu đã chết có phải chị chết một
cách tuyệt vời đúng như đã sống cuộc đời tuyệt vời mà anh đọc được qua nhật
ký? Gia đình nữ bác sĩ ở đâu? Mẹ chị có biết rằng bà có một người con gái anh
hùng đến thế nào không?
Fred đã nhiều lần thử tìm đến gia đình nữa bác sĩ. Qua những trang nhật ký,
anh biết chị tốt nghiệp trường Đại học Y khoa Hà Nội, nên lục tìm khắp nơi mọi
thông tin chi tiết về trường đó mong có manh mối gì chăng. Anh bắt gặp tên tuổi
hai giáo sư nổi tiếng là Giáo sư Đặng Văn Chung và Giáo sư Đặng Văn Ngữ.
Anh biết tên chị là Đặng Thuỳ Trâm - biết đâu họ đều là người trong dòng họ
Đặng? Anh biết mẹ chị tên là Doãn Ngọc Trâm, nhưng địa chỉ của bà chỉ là một
dãy số bí ẩn ghi ở cuối cuốn nhật ký. Anh biết bố chị là bác sĩ Đặng Ngọc Khuê,
giám đốc một bệnh viện cách Hà Nội không xa. Anh đoán đó là bệnh viện tư của
gia đình chị - rõ ràng chị xuất thân từ một gia đình trí thức. Anh biết nhà chị ở
một phố nhỏ tên là Lò Đúc. Nhưng anh cũng biết trong chiến tranh Hà Nội đã bị
ném bom. Biết đâu gia đình chị cũng đã chết hết trong một trận bom nào đó?
Anh đã hỏi nhiều người, nhưng những năm sau chiến tranh tìm một người nào
đó ở Việt Nam là điều hầu như không thể đối với anh. Mãi cách đây mấy năm
mới có một người bạn liên hệ được với họ hàng ở Hà Nội và nói với anh rằng gia
đình bác sĩ Đặng Ngọc Khuê vẫn còn sống. Nhưng không hiểu sao người đó
không muốn tìm tiếp và bảo anh đừng nói thêm với cô về cuốn nhật ký nữa.
* * *
Robert Whitehurst cũng là một cựu chiến binh ở chiến trường VN nhưng
chưa từng có mặt ở chiến trường Nam Trung bộ. Hai năm hoạt động ở vùng
đồng bằng sông Cửu Long khiến Rob đem lòng yêu mến miền đất này cùng
những con người VN hiền hòa, giàu tình cảm. VN đã trở thành một phần đời của
Rob vì anh cưới một người con gái xứ Long Xuyên. Anh học tiếng Việt, thích ăn
món ăn Việt, thích đem những cây cỏ VN về Mỹ để trồng, thậm chí có lần còn
cố gửi về Mỹ một chiếc xuồng ba lá để vợ đỡ nhớ quê.
Rob được đọc cuốn nhật ký của bác sĩ Thùy Trâm sau khi từ Mỹ trở về năm
1972. Ngay từ đầu cuốn nhật ký đã khiến anh sửng sốt. Cùng với sự giúp đỡ của
vợ, anh đọc đi đọc lại cuốn nhật ký, càng đọc anh càng bị lay động trước những
gì diễn ra trong tâm hồn người con gái ở bên kia chiến tuyến. Anh viết cho mẹ
tôi: “Tất cả những ai từng được chúng tôi cho xem cuốn nhật ký đều xúc động
trước những điều chị cô viết. Chúng tôi nghĩ chị không chỉ là một anh hùng của
riêng ai, nghĩa là mặc dù những ký ức của chị rất quí giá đối với cô cũng như
đối với chúng tôi, nhưng sự nghiệp của chị còn rất có ý nghĩa với tất cả mọi
người. Những dòng chữ của chị có một sức kêu gọi tuyệt vời.Mặc dù chị ở bên
kia chiến tuyến trong cuộc chiến tranh giữa chúng ta, nhưng ngay từ đầu những
năm 1970, Fred và tôi đã cảm thấy chị vô cùng đáng ngưỡng mộ, đáng tôn kính
và là một người tốt. Hi vọng sau khi đọc những dòng chữ viết từ quá khứ ấy, cô
sẽ đồng ý với chúng tôi... rằng theo một nghĩa nào đó chị là của riêng gia đình
cô, nhưng theo một nghĩa rất quan trọng chị là của tất cả chúng ta” (thư ngày
29-4-2005).
Rồi Rob tìm được trên mạng Internet một nơi gọi là Trung tâm VN
(Vietnam Center) ở Trường đại học Tổng hợp Texas và biết rằng tại đây người ta
vẫn tổ chức hội thảo thường niên về chiến tranh VN. Có rất nhiều người tới dự
hội thảo này: các học giả, các vị đại sứ, các viên tướng, các cựu chiến binh VN
của cả hai phía miền Nam và miền Bắc. Robert động viên Fred đến dự hội thảo
và nói về cuốn nhật ký của nữ bác sĩ. Cuộc hội thảo diễn ra như tôi đã nói lúc
đầu. Trong sự xúc động sâu sắc, Fred và Rob đưa cho nhiều người đĩa CD chứa
bản sao cuốn nhật ký của chị tôi, mong rằng giống như trong câu chuyện cổ tích
tốt đẹp nọ, cuốn nhật ký sẽ tìm được về với quê hương, về với gia đình người nữ
bác sĩ mà họ ngưỡng mộ như một anh hùng.
ĐẶNG KIM TRÂM
NHỮNG NGÀY RỰC LỬA
QUYỂN MỘT
1968
8.4.68
Một cas ruột thừa trong điều kiện thiếu thốn. Thuốc giảm đau chỉ có vài ống
Novocaine nhưng người thương binh trẻ không hề kêu la một tiếng. Anh còn
cười động viên mình - nhìn nụ cười gượng trên đôi môi khô vì mệt nhọc, mình
thương anh vô cùng. Rất đau xót rằng sự nhiễm trùng trong ổ bụng không do
ruột thừa vỡ. Tìm kiếm gần một giờ không thấy nguyên nhân, mình đành đóng
lại, cho đặt dẫn lưu và đổ kháng sinh trong ổ bụng. Nỗi băn khoăn của một
người thầy thuốc + nỗi thương xót mến phục người thương binh ấy làm mình
không thề yên bụng. Vuốt nhẹ mái tóc anh, mình muốn nói với anh rằng: với
những người như anh mà tôi không cứu chữa được thì đó là điều đau xót khó mà
phai đi trong cuộc đời phục vụ của một người thầy thuốc.
10 4.58
Vậy là chiều nay các anh lên đường để lại cho mọi người một nỗi nhớ mênh
mông giữa khu rừng vắng vẻ. Các anh đi rồi nhưng tất cả nơi đây còn ghi lại
bóng dáng các anh: những con đường đi, những chiếc ghế ngồi chơi xinh đẹp,
những câu thơ thắm thiết yêu thương. Nghe anh Tuấn ra lệnh: “Tất cả ba lô lên
đường!”. Những chiếc ba lô vụng về may bằng những tấm bao Mỹ đã gọn gàng
trên vai, mọi người còn nấn ná đứng lại trước mình bắt tay chào mình một lần
cuối. Bỗng dưng một nỗi nhớ thương kỳ lạ đối với miền Bắc trào lên trong mình
như mặt sông những ngày mưa lũ và… mình khóc ròng đến nỗi không thể đáp
lại lời chào của mọi người. Thôi! Các anh đi đi, hẹn một ngày gặp lại lại trên
miền Bắc thân yêu…
Suốt một đêm một ngày lo lắng vì cas mổ của San, chiều nay lòng mình vui
sướng xiết bao khi thấy San ngồi dậy, nét mặt anh còn in nỗi đau đớn mệt nhọc
nhưng nụ cười ngượng nở trên môi. Bàn tay anh khẽ nắm bàn tay mình mến
thương tin tưởng ơi người thương binh trẻ tuổi dũng cảm kia ơi, tôi thương anh
bằng một tình thương rộng rấl nhưng rất sâu xa: tình thương cửa một người thầy
thuốc trước bệnh nhân, tình thương của một người chị đối với đứa em đau ốm
(thực ra San bằng tuổi mình) và tình thương ấy đặc biệt hơn đối với mọi người vì
cộng thêm că lòng mến phục. Anh có thấy điều đó trong cái nhìn lo âu...
NHẬT KÝ ĐẶNG THUỲ TRÂM
Lời giới thiệu
Câu chuyện về những tấm lòng
NHỮNG NGÀY RỰC LỬA
QUYỂN MỘT
1969
Năm qua thắng lợi vẻ vang
Nơi ấy là khoảng trời anh ở
QUYỂN HAI
ĐẰNG SAU CUỐN NHẬT KÝ
Liệt sĩ – bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm sinh ngày 26 tháng 11 năm 1942, trong một
gia đình trí thức. Bố là bác sĩ ngoại khoa Đặng Ngọc Khuê, mẹ là dược sĩ Doãn
Ngọc Trâm – Nguyên giảng viên trường Đại học Dược khoa Hà Nội.
Tốt nghiệp trường Đại học Y khoa Hà Nội năm 1966, Thuỳ Trâm xung
phong vào công tác ở chiến trường B. Sau ba tháng hành quân từ miền Bắc,
tháng 3 năm 1967 chị vào đến Quảng Ngãi và được phân công về phụ trách bệnh
viện huyện Đức Phổ, một bệnh viện dân y nhưng chủ yếu điều trị cho các thương
bệnh binh.
Chị được kết nạp Đảng ngày 27 tháng 9 năm 1968.
Ngày 22 tháng 6 năm 1970, trong một chuyến công tác từ vùng núi Ba Tơ về
đồng bằng, chị bị địch phục kích và hy sinh anh dũng lúc mới chưa đầy 28 tuổi
đời, 2 tuổi Đảng và 3 năm tuổi nghề.
Hài cốt của chị được đồng bào địa phương na táng tại nơi chị ngã xuống và
luôn hương khói. Sau giải phóng, chị được gia đình và đồng đội đưa về nghĩa
trang Liệt sĩ xả Phổ Cường. Năm 1990, gia đình đã đưa chị về yên nghĩ tại nghĩa
trang Liệt sĩ xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội.
Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu hai cuốn nhật ký của Liệt sĩ Đặng Thuỳ
Trâm ghi trong những ngày ở chiến trường. Bản thân hai cuốn nhật ký này cũng
có một số phận kỳ lạ: chúng rơi vào tay những con người có lương tri bên kia
chiến tuyến, được họ giữ gìn và tìm mọi cách để đưa về cho gia đình chị. Sau
hơn một phần ba thế kỷ lưu lạc, đúng vào dịp kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng
miền Nam thống nhất đất nước (30.4.2005), nó đã trở về với gia đình liệt sĩ.
Hiện cuốn nhật ký được lưu giữ tại Viện Lưu trữ về Việt Nam ở Lubbock, Texas,
Mỹ.
Trong quá trình biên soạn và chỉnh lý, chúng tôi cố gắng tôn trọng nguyên
bản câu văn cũng như những thói quen dùng từ và ngữ pháp của tác giả - chỉ sửa
lại một số từ địa phương hoặc lược bớt những từ trùng lặp. Chúng tôi cũng chú
giải một số điểm cần thiết để bạn đọc có thể hiểu hơn hoàn cảnh cũng như lịch
sử và bản thân tác giả.
Ngoài ra, trong phần ảnh tư liệu, được phép của những người có liên quan,
chúng tôi có sử dụng những bức ảnh trong album gia đình, ảnh chụp ở Quảng
Ngãi trong những năm 1969 – 1970 do Frederic Whitehurst cung cấp và một số
bức ảnh do liệt sĩ Nguyễn Văn Giá – Phóng viên hãng phim Thời sự - Tài liệu
Việt Nam chụp tháng 10.1969 ở thôn Nga Mân, xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ Quảng Ngãi trước khi anh hy sinh.
Lời giới thiệu
Thời chống Mỹ từng có một bác sĩ,
một con người, tên là Đặng Thuỳ Trâm…
Tác giả những dòng nhật ký sua đây bạn đọc sẽ đọc thuộc về một lớp người
khá đặc biệt trong đời sống tinh thần xã hội ta từ sau 1945 - họ có mặt trong
công cuộc chiến đấu chống Mỹ từ mấy năm đầu tiên, khi ở miền Nam, các cơ sở
cách mạng triển khai đến tận nhiều huyện đồng bằng, và trên toàn quốc, cuộc
chiến tranh dù đã gian khổ nhưng chưa có cái không khí bức bối khắc nghiệt như
từ đầu những năm 70 trở đi.
Và một điều đáng nói nữa: trước đó, họ thuộc lứa thanh niên đầu tiên được
đào tạo theo tinh thần của những người đi kháng chiến chống Pháp, cái tinh thần
“cuộc sống mới”, ấp ủ từ những ngày Việt Bắc gian khổ mà hào hùng
Hà Nội trước chiến tranh thanh bình, yên ả lạ thường. Bao trùm xã hội là một
không khí thiêng liêng, thành kính. Ngay đối với người dân thường mọi chuyện
làm ăn sinh sống chỉ có ý nghĩa là sự chuẩn bị cho ngày mai có mặt ở chiến
trường. Nền kinh tế tem phiếu chưa làm mấy ai khó chịu. Trong tâm trí đám học
trò chúng tôi (tôi với Thùy Trâm vốn học cùng lớp trong suốt ba năm cấp ba ở
trường Chu Văn An, nên dưới đây, việc dùng chữ chúng tôi là có một lý do
chính đáng) lúc nào cũng thấm đẫm tinh thần lãng mạn của Ruồi trâu, của Pavel
Korsaghin trong Thép đã tôi thế đấy và cả của Marius và Cosette trong Những
người khốn khổ. Sách vở lúc ấy là đồng nghĩa với văn hoá. Thêm một điã nhạc
cổ điển, với một vài bông hoa trên bàn nữa thì coi như mãn nguyện hoàn toàn.
Có mặt trong đám đông dự mít tinh ở quảng trường Ba Đình trong một ngày lễ
lớn (trước 1965, những ngày lễ lớn bao giờ cũng có mít tinh, đâu cả chục ngàn
người), anh bạn tôi mặt ngẩng cao dõi theo mấy cánh chim bay mãi vào những
đám mây xa. Đêm giao thừa ngay khi có chiến tranh rồi thì mấy ngày Tết vẫn có
ngừng bắn, cũng như mọi người, chúng tôi dắt xe đạp đi bộ quanh Hồ Gươm
trong tiếng nhạc dập dìu của mấy bài Hà Nội Huế Sài Gòn, Tiếng hát giữa rừng
Pắc Bó…
Và có thể nói mà không sợ ngoa là từ đấy, nhiều người đi thẳng ra chiến
trường.
Nhật ký tôi viết mấy năm ấy còn ghi lại được hình ảnh về những người lính
ớ đánh Khe Sanh 1967: Quần áo ba lô người nào cũng tinh tươm, niềm tin sáng
bừng trong mắt, chỉ sợ không đi thì lỡ mất dịp có mặt trong lễ chiến thắng.
Một niềm tin tưởng như chỉ có ở tôn giáo - thứ niềm tin mang đầy cảm giác
thánh thiện - chi phối hành động mọi người. Lao vào chiến tranh lúc ấy không
phải chỉ là nghĩa vụ mà còn là niềm ao ước, là vinh dự mà nhiều anh em chúng
tôi cảm thấy phải giành lấu bằng được.
Tốt nghiệp đại học 1966, Thuỳ Trâm lại xung phong đi khá xa, vào tận Đức
Phổ, Quảng Ngãi. Ở đó chị làm công việc đặc trưng cho người phụ nữ trong
chiến tranh là phụ trách một bệnh viện huyện, và từ đó tạo nên cho mình một số
phận.
Không phải ngẫu nhiên, hai người lính thám báo Mỹ hôm qua, trong bức thư
gởi tới người mẹ của liệt sĩ vừa viết mới đây, khẳng định một cách chắc chắn
như đinh đóng cột: “Trên bất cứ đất nước nào trên thế giới, điều đó đều được gọi
là anh hùng”
Họ muốn nói tới cái sự việc từng ám ảnh họ một thời gian dài: người bác sĩ
này đã đứng ra cầm súng bảo vệ cho những thương binh, và đã ngã xuống như
một người lính vừa rời tay súng.
Tuy nhiên, theo tôi, trước khi để cái hành động dũng cảm cuốn cùng Thuỳ
Trâm “đóng đinh” vào tâm trí mình, những người lính bên kia chiến tuyến thật ra
đã bị chinh phục. Phải có một nhân tố nào nữa, thiết yếu hơn, khiến họ tự nhủ
phải cứu bằng được cuốn nhật ký rồi bị hút theo chị, mải miết tìm cách giải mã
những dòng chữ chị ghi và sau này còn để rất nhiều thời gian lần theo dấu vết
của chị.
Chỉ có toàn bộ con người Thuỳ Trâm mới đóng nổi vai trò đẹp đẽ đó.
Gần đây, khi đi ra với thế giới, nhiều người trong chúng ta chợt hiểu ra một
sự thực: hai chữ Việt Nam bấy lâu mới chỉ gắn với một cuộc chiến tranh. Và
chúng ta còn phải phấn đấu nhiều để người ta hiểu rằng việt Nam còn là một xã
hội, một đất nước, một nền văn hoá.
Ngay từ lúc ấy, trong vai trò một chiến sĩ, Thuỳ Trâm đã tự chứng tỏ mình
mình còn là một con người với nghĩa rộng rãi nhất của từ này.
Một mặt, chị có ý thức về bổn phận. Chị yêu thương mọi người. Chị đau nỗi
đau của mỗi bệnh nhân đến với mình. Chị muốn trở thành một người tốt. Những
cách nói mà với một số bạn trẻ ngày nay tưởng như là công thức (chẳng hạn trái
tim đập cùng một nhịp với nhân dân đất nước, chẳng hạn niềm yêu thương vô
hạn độ) chính là những lẽ sống đã được Thuỳ Trâm tự nguyện chấp nhận.
Mặt khác,chị vẫn dành riêng cho mình một cuộc sống riêng tư. Chị tha thiết
với thiên nhiên cây cỏ. Một phần tháng ngày của chị được dệt bằng những vui
buồn của quá khứ. Trong khi thất bại trong tình cảm riêng. con người này lại biết
tìm ra ngay từ bằng người chung quanh những yếu tố tốt đẹp, rồi lý tưởng hoá
thêm lên để biến họ thành những biểu tượng sinh động, bù đắp cho một cuộc
đống nội tâm vốn quá dồi dào, quá nồng nhiệt.
Có một quy ước những ai ở vào lứa tuổi chúng ta đều biết và tự nguyện ghi
nhớ, tự nguyện tuân theo, đó là không nên nói nhiều đến cô đơn cùng nỗi buồn.
Sự phức tạp của tình cảm lại càng là điều cấm kỵ.
Cái gì cũng phải rành rẽ. Đơn giản. Rõ ràng - cái kiểu rõ ràng thô thiển một
chiều. Về phần mình mặc dù là con người hết lòng tin vào lý tưởng, song Thuỳ
Trâm không bị những luật lệ không ghi thành văn bản ấy ràng buộc. Với sự nhạy
cảm của một trí thức, chị lắng nghe trong mình mọi băn khoăn xao động. Chị
không xa lạ với những phân vân khó xử. Trong nhật ký, người nữ bác sĩ ghi ra
gần hết tất cả những cung bậc tình cảm mà ai người ở vào địa vị ấy đều trải qua,
và có cảm tưởng chỉ làm như vậy mới tìm được sự cân bằng cần thiết.
Tuy cái chết không được miêu tả nhiều trong nhật ký, nhưng trong tâm trí
Thuỳ Trâm, nó luôn luôn có mặt. Nó đứng thấp thoáng đằng sau các sự kiện, và
cuộc đối diện với cái chết làm nên một phần nội dung cuộc sống, tức cũng là làm
nên vẻ đẹp cao thượng của con người lúc đó mới 27 tuổi này. Đọc nhiều trang,
nhất là nửa phần viết về sau, khi đề cập tới nhiều hy sinh mất mát, tôi không
khỏi liên tưởng đến nhiều tác phẩm văn học có liên quan tới cùng một chủ
đề.Đây là một bài thơ mà nhà thơ Nga Aleksei Surkov đã viết trong cuộc chiến
tranh chống Phát xít:
Trong hầm ta ánh lửa sáng ngời
Từng thanh củi bọt sùi như lệ ứa
Tiếng đàn dạo một điệu trầm và nhẹ
Ca ngợi mắt em ca ngợi nụ cười em
Anh ở đây trên tuyết gần Mạc Tư Khoa
Những hàng dương đang ngọt ngào thầm thĩ
Cái bản tình ca anh vừa hát ấy
Bản tình ca buồn anh mong được em nghe
Giữa đôi ta dù xa cách mênh mong
Dù cái chết đến gần anh mấy bước
Dù có cả một cánh đồng băng tuyết
Trên đương dài ta vẫn đến gặp nhau
Ta hát ta đàn ta dẹp yên bão táp
Hạnh phúc mất ở ta dẫn nó trở về
Tình yêu sưởi chiến hào thêm ấm áp
Tình yêu này sáng mãi giữa tim anh.
Tôi dự đoán là đã có những lúc Thuỳ Trâm sống cái cảm giác mà bài thơ
diễn tả, dù là không biết gì về nó. Hồi ở Hà Nội, chị cũng rất thích âm nhạc và
thường quan âm nhạc để hình dung ra những gì thiết yếu của đời sống - sự hoà
hợp, tình yêu, hạnh phúc.
* * *
Ngoài những Thép đã tôi thế đấy, Ruồi trâu, thơ Từ ấy của Tố Hữu , thơ Đợi
anh về của Simonov, vào những ngày đọc lại nhật ký của Đặng Thuỳ Trâm để
góp phần chỉnh lý và biên tập lại thành một cuốn sách, thường trong đầu óc tôi
còn trở đi trở lại một vài tác phẩm nước ngoài khác, đặc biệt là trường hợp Nhật
ký Anne Frank.
Chỗ giống nhau đầu tiên: Đây đều là những tác phẩm viết về con người đối
diện với chiến tranh. Trong cuộc sống khó khăn của một người bị ép phải chui
nhủi trong một nơi ẩn náu, cô thiếu nữ Do Thái mang tên Anne Frank vẫn tìm đủ
không gian để thể nghiệm mọi cảm giác làm người bình thường, và điều đó làm
cô tự hào.
"Tôi có cái can đảm sống khác thường. Tôi luôn luôn cảm thấy mình sao
khoẻ thế, sao tự do và trẻ trung thế."
"Thật lạ cho điều này: tôi chưa bao giờ rời bỏ hy vọng. Chúng có vẻ phi lý
và khó thành tựu. Song mặc tất cả, tôi vẫn bám vào chúng. Vì tôi tiếp tục tin vào
lòng tốt thiên bẩm của con người."
Những dòng chữ đơn giản đó hoàn toàn có thể đặt lẫn vào nhật ký Thuỳ
Trâm mà không gượng gạo.
Còn một đếm nữa làm nên sự gần gũi giữa Thuỳ Trâm với Anne Frank, nó
cũng là lý do khiến bọn tôi chọn cho tập ghi chép của chị cái tên đơn giản như
hiện nay, đó là cái thể loại mà họ sử dụng - thể nhật ký.
Trong đời sống không thiếu gì những người khi bước vào đời háo hức định
ghi nhật ký để rồi nửa đường đứt gánh bỏ dở. Khi bắt tay viết họ thường tự nhỉ
mình sẽ thành thực với mình. Có biết đâu cái tôi của họ nghèo nàn nên đó là một
sự thành thực vô nghĩa. Và họ không sao tìm đủ nghị lực duy trì nhật ký đến
cùng.
Anne Frank thú nhận:
“Điều tuyệt diệu nhất là tôi có thể viết ra tất cả những gì cảm nghĩ bằng
không sẽ chết ngạt mất".
“Những người nào không viết không biết được những kỳ ảo của nó. Ngày
xưa tôi luôn luôn đau đớn vì không biết vẽ; nhưng bây giờ lòng tôi phơi phới vì
ít ra tôi đã có thể viết”.
Thuỳ Trâm không có những tuyên bố hùng hồn như vậy, nhưng quả thật với
chị, nhật ký đã trở thành một phần cuộc đời. Trong nhật ký chị tìm ra một con
người khác với một Thuỳ Trâm mọi người vẫn biết hằng ngày. Để chia sẻ. Để
thú nhận. Để tìm thêm niềm tin. Và đôi khi như là để làm nũng với mình một
chút, lối làm nũng chỉ chứng tỏ rằng vẫn có một thế giới riêng của mình mà
không ai thông cảm hết.
Tất cả những yếu tố đó làm nên sức hấp dẫn của những trang nhật ký. Với
chị, cái hấp dẫn ấy giúp chị có đủ hào hứng ghi chép một cách đều đặn. Với
người đọc hôm nay, nó làm nên sức cuốn hút của những tâm sự, mặc dù trong
hoàn cảnh đổi khác, mọi người đã nghĩ khác.
Do đặc điểm riêng của chiến tranh, ngay từ những ngày ấy, bao nhiêu công
sức chúng ta để cả vào việc động viên nhau ra trận. Còn chính cuộc sống mỗi
người trong lúc đó thì mới được ghi chép rất ít. Ba mươi năm sau, sự “tiêu hoá”
vẫn dừng lại ở trình độ cũ. Mỗi khi nói về chiến thắng, ta vẫn chỉ biết nói với
nhau những lời lẽ mọi người đã từng nghe mấy chục năm trước. Tại sao? Phần
thì những sôi động để kiếm sống để tồn tại lúc nào cũng cuốn hút mọi người.
Phần nữa cũng là bởi ta chưa có ý thức đầy đủ về lịch sử, về sự có mặt của quá
khứ trong hiện tại. Công tác tổng kết về chiến tranh quá chậm, các bộ phận lịch
sử chiến tranh không hoạt động như đáng lẽ phải hoạt động. Mỗi người bình
thường chưa được gợi ý thu thập lại các tài liệu đã ghi hoặc tìm tòi lại lục khi lại
trong ký ức những kỷ niệm xưa để viết ra thành những hồi ký có giá trị chân
thực.
* * *
Ngay sau khi biết rằng đây là một cuốn nhật ký viết trong chiến tranh, có thể
có bạn đọc - nhất là bạn đọc trẻ - sẽ hỏi: Lại cho chúng tôi một tấm gương để
bảo chúng tôi học theo chứ gì?
Không đâu bạn ạ! Ở đây bạn sẽ không tìm thấy những lời khuyên nhủ mà chỉ
bắt gặp một con người với một cuộc sống cụ thể của thời chiến. So với lớp thanh
niên ngày nay, người thanh niên của gần bốn chục năm trước có một cách sống
khác, một cách sống không lắm chiều cạnh phong phú, không tự do nhiều vẻ,
nhưng lại trong sáng thánh thiện
đến kỳ lạ. Sự tận tụy làm người của Thuỳ Trâm là nhân tố khiến cho những
người lính Mỹ khác hẳn về lý tưởng cũng phải kính trọng. Còn với chúng ta, tin
rằng nó cũng có những hiệu ứng tương tự.
Trong cuốn lịch sử văn học thế kỷ XX đang có trong tay, tôi bắt gặp một
nhận xét của A. Malraux: "Điều huyền bí hơn cả không phải là chúng ta bị ném
vào mớ hỗn độn vật chất cùng với hành tinh, mà là trong “lao tù” đó, chúng ta
rút tỉa từ bản thân cá nhân mình những nhân tố con người - nó cần vừa đủ để cái
hư không sẵn có trong chúng ta bị phủ nhận”
Câu nói mang trong mình nó nhiều triết lý, mà một trong những triết lý đó là:
trong sự muôn mày muôn vẻ của thực tại, con người vẫn là mẫu số chung làm
nên những giá trị vĩnh cửu.
Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm có cái nhân tố nhân văn đầy bí mật đó. Nếu cuốn
sách có thể giúp mỗi người sau khi đọc xong quay trở tại tìm ra những thiết tha
cao đẹp và cả những cay đắng bi thảm có thể có trong kiếp người của chính
mình, tức là sự hy sinh của một con người ở 27 có thêm một ý nghĩa chân chính.
VƯƠNG TRÍ NHÀN
Câu chuyện về những tấm lòng
Sáng 25-4-2005, tôi nhận được một cú điện thoại bất ngờ. Đó là điện thoại
gọi đến từ văn phòng Quaker Hà Nội. Người của văn phòng báo tin hiện có một
người Mỹ đang giữ cuốn nhật ký của chị gái tôi - liệt sĩ Đặng Thùy Trâm. Chị
Thùy của chúng tôi.
Chị tôi hi sinh năm 1970 tại chiến trường Quảng Ngãi. Cống hiến của chị tôi
ghi trong hồ sơ đề nghị truy tặng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì
rất đơn sơ: bác sĩ, hi sinh tại chiến trường. Thời gian công tác: năm năm, ba
tháng, năm ngày...
Những kỷ vật còn lại của chị tôi do đồng đội gửi về chỉ gồm mấy tấm ảnh,
một số thư của gia đình từ miền Bắc gửi vào. Các anh cũng nói chị tôi có ghi
nhật ký – đó là thói quen của chị tôi từ nhỏ - nhưng đã bị giặc lấy đi trong một
trận càn.
* * *
Trung tuần tháng 3-2005, một cuộc hội thảo thường niên về chiến tranh VN
được tổ chức tại Trung tâm Việt Nam - Đại học Texas, Mỹ. Rất nhiều người đến
dự. Tại hội thảo, người ta thảo luận về chiến tranh VN ở nhiều khía cạnh khác
nhau. Frederic Whitehurst và Robert Whitehurst đã đến với bài nói về nhật ký
của một nữ bác sĩ Việt cộng mà Frederic nhận được khi tham gia chiến tranh ở
VN. Sự kiện thu hút được sự chú ý của người nghe qua lời kể xúc động của Fred
về quá trình từ lúc nhận được cuốn nhật ký cho tới lúc quyết định tặng nó cho
viện lưu trữ về Việt Nam ở Lobbock, cũng như qua những trang nhật ký đầy tình
yêu thương và khát vọng hoà bình đã được Robert dịch sang tiếng Anh. Buổi hội
thảo kết thúc, mọi người xôn xao đặt ra nhiều câu hỏi, nhiều người ngỏ ý muốn
giúp Fred tìm gia đình nữ bác sĩ.
Ted Engelmann là một trong những người có mặt ở hội thảo. Ba ngày sau khi
hội thảo kết thúc, Ted sang VN. Ở Hà Nội, anh đã nhờ một người bạn làm ở văn
phòng Quaker Hà Nội tìm giúp gia đình bác sĩ Đặng Ngọc Khuê. Những nhân
viên ở đây rất nhiệt tình, lần theo manh mối ít ỏi có trong cuốn nhật ký, họ đã
tìm sang tận Đông Anh, nơi bố tôi làm việc từ gần 50 năm trước. Nhưng ở đó,
người duy nhất làm việc cùng thời với bố tôi cũng đã nghỉ hưu từ năm 2000.
Bệnh viện Đông Anh cử người về tận quê ông để hỏi địa chỉ gia đình tôi. Ông lại
chỉ sang Trường đại học Dược Hà Nội, nơi mẹ tôi công tác trước khi về nghỉ hưu
từ 20 năm trước. Cứ như thế, bao trái tim nhân hậu đã chuyển tiếp cho nhau tín
hiệu để cuối cùng giúp Ted tìm được gia đình tôi và trao lại chiếc đĩa CD chứa
đựng tâm huyết của người viết nhật ký 35 năm về trước.
Những ngày sau đó tôi nhận được rất nhiều thư của hai anh em Frederic
Whitehurst và Robert Whitehurst. Họ kể về những năm tháng ở VN và hành
trình bao năm qua họ đã tìm kiếm gia đình tôi như thế nào. Có những lúc họ
tưởng như tuyệt vọng không thể nào tìm được gia đình tôi, đã sợ rằng khi họ
chết đi, hai cuốn nhật ký của chị tôi sẽ nằm trong đống giấy má bình thường
không ai biết đến, bị quẳng đi, bị mục nát, bị quên lãng. Họ nói với tôi rằng vì
không còn hi vọng tìm được gia đình tôi, họ đã có ý định in hai cuốn nhật ký
thành sách để cả thế giới được biết về một nữ bác sĩ cộng sản người Hà Nội đã
sống và đã chết ra sao. Họ mong rằng từ cuốn sách đó sự nghiệp y tế của chị tôi
sẽ còn được tiếp nối... Và trong nỗi tuyệt vọng như thế, họ đã trao tặng hai cuốn
nhật ký cho Viện lưu trữ về VN Lubbock tại Trường đại học Tổng hợp Texas, để
chúng có thể được gìn giữ và chăm chút hơn khả năng họ có thể làm được.
Dưới đây là bức thư đầu tiên của Fred gửi cho tôi:
“Thứ sáu 29-4-2005
Tôi là Frederic Whitehurst. Tôi đã giữ ký ức về chị cô, bác sĩ Đặng Thùy
Trâm, 35 năm nay. Tôi đã giữ cuốn nhật ký của chị ấy suốt 35 năm. Ted
Engelmann - người tôi chỉ mới vừa biết - nói với tôi rằng anh ấy đã đến nhà cô
và hiện nay cô đã nhận được bản copy của hai cuốn nhật ký cùng những bức
ảnh. Có bao nhiêu điều tôi phải nói với cô, với gia đình cô và đặc biệt là với mẹ
cô. Sau bao nhiêu năm tìm kiếm, điều này giống như một giấc mơ và việc tìm ra
gia đình cô khiến tôi bật khóc. Một người mẹ phải được biết về những ngày
tháng của con gái mình, một đất nước phải được biết về một người anh hùng
như bác sĩ Đặng. Mọi việc dường như thật thích hợp, mẹ cô cần phải nhận được
những dòng chữ của con gái mình đúng vào dịp kỷ niệm 30 năm giải phóng đất
nước bà - 30-4-2005...”.
Frederic Whitehurst - thường gọi là Fred là một sĩ quan quân báo Mỹ tham
chiến ở chiến trường Đức Phổ, Quảng Ngãi từ năm 1969-1971. Trong chiến
tranh, nhiệm vụ của Fred là thu thập các thông tin, tài liệu có giá trị quân sự để
phân tích tình hình, truy tìm dấu tích quân giải phóng, định hướng tập kích hay
càn quét. Nhiệm vụ đó khiến Fred có thể nhìn cận cảnh cuộc chiến tranh và
chứng kiến tận mắt những mất mát khủng khiếp - cả đối với phía VN lẫn phía
Mỹ. Fred đã chứng kiến cảnh “cả một xóm nhỏ Nhơn Phước ở miền tây Đức
Phổ bị bom giội tan hoang không còn một người sống” (thư ngày 4-6-2005).
Fred đã nhìn thấy những em nhỏ ở Chu Lai bị thiêu cháy trong bom napalm.
Fred đã chứng kiến viên trung úy chỉ huy trực tiếp của mình gần như mất trí vì
không chịu nổi cảnh các nhân viên y tế Mỹ “đơn giản cứ nhặt bừa bất kỳ một
cánh tay, cẳng chân nào đó lắp vào xác bạn mình cho vào quan tài gửi về Mỹ”
(thư ngày 4-6-2005). Những cảnh chứng kiến đó đã ám ảnh Fred trong bao năm
nay từ khi rời VN trở về.
Nhưng cũng từ những ngày khốc liệt đó, Fred đã nhìn thấy cuộc chiến tranh
từ một ánh sáng hoàn toàn khác biệt.
Trong một trận tập kích vào một “căn cứ của Việt cộng”, sau khi tiếng súng
đã im, đơn vị của Fred tiến vào và nhận thấy đây là một bệnh viện nhỏ. Có rất
nhiều lán trại, nhiều phòng - rõ ràng là phòng bệnh, cả một phòng mổ dã chiến.
Có vẻ mọi người trong bệnh viện đã vội vã đi khỏi ngay trước khi quân Mỹ ập
tới và không kịp mang theo tài liệu.
Theo qui định của quân đội Mỹ, mọi tài liệu của địch thu được trên chiến
trường phải chuyển lại cho bộ phận quân báo nghiên cứu. Hôm đó Fred thu nhặt
được rất nhiều tài liệu. Cùng với thông dịch viên người Việt, Fred chọn lọc các
tài liệu có giá trị quân sự, số còn lại họ vứt vào đống lửa để thiêu hủy.
Fred đang đốt những tài liệu loại bỏ thì thượng sĩ Nguyễn Trung Hiếu thông dịch viên của đơn vị - cầm một cuốn sổ nhỏ đến cạnh anh và nói: “Fred,
đừng đốt cuốn sổ này. Bản thân trong nó đã có lửa rồi”. Fred chưa hiểu đó là
cuốn sổ gì, nhưng vẻ xúc động của Hiếu và việc Hiếu có thể kính trọng cả đối
phương tác động rất mạnh đến anh, Fred bỏ cuốn sổ vào túi.
Nhiều đêm sau đó Fred và Hiếu cùng nhau đọc cuốn sổ. Đó là nhật ký của
một Việt cộng, chính là nữ bác sĩ đứng đầu cái bệnh viện nhỏ mà đơn vị Fred
càn vào. Nét chữ nghiêng nghiêng đầy nữ tính. Anh càng tò mò hơn khi Hiếu
cho biết nữ bác sĩ đó còn rất trẻ, mới 26 tuổi và từ Hà Nội vào Đức Phổ công tác
chưa được hai năm.
Rồi như một định mệnh, mấy tháng sau Fred nhận được cuốn nhật ký thứ hai
của nữ bác sĩ, cũng do Nguyễn Trung Hiếu đem về. Những dòng chữ rực lửa
khiến Fred vô cùng xúc động - mặc dù anh chỉ được nghe qua lời dịch vội của
Nguyễn Trung Hiếu và đó là những dòng chất chứa căm thù đối với quân Mỹ.
Những dòng đầy yêu thương, hi vọng khiến anh vô cùng ngạc nhiên. Anh không
hiểu nổi bắt nguồn từ đâu mà một người con gái có thể nhìn thấy cái đẹp của
màu xanh giữa chiến trường mịt mù bom đạn, vì sao cô ấy có thể nghe nổi bản
giao hưởng êm đềm khi quân Mỹ gần như luôn bám sát sau lưng.
Năm 1972, Fred được rời VN và trở về Mỹ. Trong hành lý của anh có những
kỷ vật nặng trĩu của chiến tranh: hai cuốn nhật ký của nữ bác sĩ, hơn 50 tấm ảnh
chụp những người dân Quảng Ngãi trong chiếc máy ảnh Canon bị bắn thủng lấy
được trên xác một phóng viên Việt cộng, chiếc đục nhỏ rơi bên xác một người
thợ mộc già bị giết hại. Cũng từ đó VN trở thành một nỗi ám ảnh trong anh.
Năm tháng trôi qua, với những ám ảnh về chiến tranh, về tội ác đã được
chứng kiến ở Việt Nam đè nặng trong tim, Fred đã nhiều lần quay lưng lại với
cái xấu, không chấp nhận cái xấu – dù chỉ là gián tiếp. Anh đã tìm được nhiều
điều tốt đẹp, đã từng kiện cả Cục điều tra Liên bang Mỹ (FBI), cả giám đốc FBI,
cả chính phủ Mỹ vì những việc làm sai trái và đã thắng tất cả những thế lực đó
trong một vụ kiện nổi tiếng cả trong nước Mỹ lẫn trên thế giới. Một lúc khác tôi
sẽ nói thêm nhiều về anh.
Mẹ của Fred là một nhà giáo và là họa sĩ. Khi Fred cho mẹ xem cuốn nhật
ký, bà đã bảo con trai hãy cẩn thận, bởi vì hai cuốn sổ này có thể thiêu cháy cuộc
đời anh.
Quả vậy, trái tim Fred luôn bị nung ngấu vì ngọn lửa toả ra từ hai cuốn sổ
nhỏ ố vàng. Anh không thể nào ngủ yên mà cứ trăn trở muốn làm một cái gì vì
người nữ bác sĩ ấy. Chị còn sống hay đã chết? Nếu đã chết có phải chị chết một
cách tuyệt vời đúng như đã sống cuộc đời tuyệt vời mà anh đọc được qua nhật
ký? Gia đình nữ bác sĩ ở đâu? Mẹ chị có biết rằng bà có một người con gái anh
hùng đến thế nào không?
Fred đã nhiều lần thử tìm đến gia đình nữa bác sĩ. Qua những trang nhật ký,
anh biết chị tốt nghiệp trường Đại học Y khoa Hà Nội, nên lục tìm khắp nơi mọi
thông tin chi tiết về trường đó mong có manh mối gì chăng. Anh bắt gặp tên tuổi
hai giáo sư nổi tiếng là Giáo sư Đặng Văn Chung và Giáo sư Đặng Văn Ngữ.
Anh biết tên chị là Đặng Thuỳ Trâm - biết đâu họ đều là người trong dòng họ
Đặng? Anh biết mẹ chị tên là Doãn Ngọc Trâm, nhưng địa chỉ của bà chỉ là một
dãy số bí ẩn ghi ở cuối cuốn nhật ký. Anh biết bố chị là bác sĩ Đặng Ngọc Khuê,
giám đốc một bệnh viện cách Hà Nội không xa. Anh đoán đó là bệnh viện tư của
gia đình chị - rõ ràng chị xuất thân từ một gia đình trí thức. Anh biết nhà chị ở
một phố nhỏ tên là Lò Đúc. Nhưng anh cũng biết trong chiến tranh Hà Nội đã bị
ném bom. Biết đâu gia đình chị cũng đã chết hết trong một trận bom nào đó?
Anh đã hỏi nhiều người, nhưng những năm sau chiến tranh tìm một người nào
đó ở Việt Nam là điều hầu như không thể đối với anh. Mãi cách đây mấy năm
mới có một người bạn liên hệ được với họ hàng ở Hà Nội và nói với anh rằng gia
đình bác sĩ Đặng Ngọc Khuê vẫn còn sống. Nhưng không hiểu sao người đó
không muốn tìm tiếp và bảo anh đừng nói thêm với cô về cuốn nhật ký nữa.
* * *
Robert Whitehurst cũng là một cựu chiến binh ở chiến trường VN nhưng
chưa từng có mặt ở chiến trường Nam Trung bộ. Hai năm hoạt động ở vùng
đồng bằng sông Cửu Long khiến Rob đem lòng yêu mến miền đất này cùng
những con người VN hiền hòa, giàu tình cảm. VN đã trở thành một phần đời của
Rob vì anh cưới một người con gái xứ Long Xuyên. Anh học tiếng Việt, thích ăn
món ăn Việt, thích đem những cây cỏ VN về Mỹ để trồng, thậm chí có lần còn
cố gửi về Mỹ một chiếc xuồng ba lá để vợ đỡ nhớ quê.
Rob được đọc cuốn nhật ký của bác sĩ Thùy Trâm sau khi từ Mỹ trở về năm
1972. Ngay từ đầu cuốn nhật ký đã khiến anh sửng sốt. Cùng với sự giúp đỡ của
vợ, anh đọc đi đọc lại cuốn nhật ký, càng đọc anh càng bị lay động trước những
gì diễn ra trong tâm hồn người con gái ở bên kia chiến tuyến. Anh viết cho mẹ
tôi: “Tất cả những ai từng được chúng tôi cho xem cuốn nhật ký đều xúc động
trước những điều chị cô viết. Chúng tôi nghĩ chị không chỉ là một anh hùng của
riêng ai, nghĩa là mặc dù những ký ức của chị rất quí giá đối với cô cũng như
đối với chúng tôi, nhưng sự nghiệp của chị còn rất có ý nghĩa với tất cả mọi
người. Những dòng chữ của chị có một sức kêu gọi tuyệt vời.Mặc dù chị ở bên
kia chiến tuyến trong cuộc chiến tranh giữa chúng ta, nhưng ngay từ đầu những
năm 1970, Fred và tôi đã cảm thấy chị vô cùng đáng ngưỡng mộ, đáng tôn kính
và là một người tốt. Hi vọng sau khi đọc những dòng chữ viết từ quá khứ ấy, cô
sẽ đồng ý với chúng tôi... rằng theo một nghĩa nào đó chị là của riêng gia đình
cô, nhưng theo một nghĩa rất quan trọng chị là của tất cả chúng ta” (thư ngày
29-4-2005).
Rồi Rob tìm được trên mạng Internet một nơi gọi là Trung tâm VN
(Vietnam Center) ở Trường đại học Tổng hợp Texas và biết rằng tại đây người ta
vẫn tổ chức hội thảo thường niên về chiến tranh VN. Có rất nhiều người tới dự
hội thảo này: các học giả, các vị đại sứ, các viên tướng, các cựu chiến binh VN
của cả hai phía miền Nam và miền Bắc. Robert động viên Fred đến dự hội thảo
và nói về cuốn nhật ký của nữ bác sĩ. Cuộc hội thảo diễn ra như tôi đã nói lúc
đầu. Trong sự xúc động sâu sắc, Fred và Rob đưa cho nhiều người đĩa CD chứa
bản sao cuốn nhật ký của chị tôi, mong rằng giống như trong câu chuyện cổ tích
tốt đẹp nọ, cuốn nhật ký sẽ tìm được về với quê hương, về với gia đình người nữ
bác sĩ mà họ ngưỡng mộ như một anh hùng.
ĐẶNG KIM TRÂM
NHỮNG NGÀY RỰC LỬA
QUYỂN MỘT
1968
8.4.68
Một cas ruột thừa trong điều kiện thiếu thốn. Thuốc giảm đau chỉ có vài ống
Novocaine nhưng người thương binh trẻ không hề kêu la một tiếng. Anh còn
cười động viên mình - nhìn nụ cười gượng trên đôi môi khô vì mệt nhọc, mình
thương anh vô cùng. Rất đau xót rằng sự nhiễm trùng trong ổ bụng không do
ruột thừa vỡ. Tìm kiếm gần một giờ không thấy nguyên nhân, mình đành đóng
lại, cho đặt dẫn lưu và đổ kháng sinh trong ổ bụng. Nỗi băn khoăn của một
người thầy thuốc + nỗi thương xót mến phục người thương binh ấy làm mình
không thề yên bụng. Vuốt nhẹ mái tóc anh, mình muốn nói với anh rằng: với
những người như anh mà tôi không cứu chữa được thì đó là điều đau xót khó mà
phai đi trong cuộc đời phục vụ của một người thầy thuốc.
10 4.58
Vậy là chiều nay các anh lên đường để lại cho mọi người một nỗi nhớ mênh
mông giữa khu rừng vắng vẻ. Các anh đi rồi nhưng tất cả nơi đây còn ghi lại
bóng dáng các anh: những con đường đi, những chiếc ghế ngồi chơi xinh đẹp,
những câu thơ thắm thiết yêu thương. Nghe anh Tuấn ra lệnh: “Tất cả ba lô lên
đường!”. Những chiếc ba lô vụng về may bằng những tấm bao Mỹ đã gọn gàng
trên vai, mọi người còn nấn ná đứng lại trước mình bắt tay chào mình một lần
cuối. Bỗng dưng một nỗi nhớ thương kỳ lạ đối với miền Bắc trào lên trong mình
như mặt sông những ngày mưa lũ và… mình khóc ròng đến nỗi không thể đáp
lại lời chào của mọi người. Thôi! Các anh đi đi, hẹn một ngày gặp lại lại trên
miền Bắc thân yêu…
Suốt một đêm một ngày lo lắng vì cas mổ của San, chiều nay lòng mình vui
sướng xiết bao khi thấy San ngồi dậy, nét mặt anh còn in nỗi đau đớn mệt nhọc
nhưng nụ cười ngượng nở trên môi. Bàn tay anh khẽ nắm bàn tay mình mến
thương tin tưởng ơi người thương binh trẻ tuổi dũng cảm kia ơi, tôi thương anh
bằng một tình thương rộng rấl nhưng rất sâu xa: tình thương cửa một người thầy
thuốc trước bệnh nhân, tình thương của một người chị đối với đứa em đau ốm
(thực ra San bằng tuổi mình) và tình thương ấy đặc biệt hơn đối với mọi người vì
cộng thêm că lòng mến phục. Anh có thấy điều đó trong cái nhìn lo âu...
 





