DANH NGÔN HAY

Theo tâm lý học, giữ im lặng không có nghĩa là bạn không có gì để nói, mà là bạn cho rằng họ chưa sẵn sàng để nghe suy nghĩ của bạn. - Khuyết Danh

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    BẢN TIN HÔM NAY

    Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z6522676591609_b3e220003660ce9886025cb13cd6e2c4.jpg Z6522677129001_17bd516d35a011319452a82197a3aa73.jpg Z6522677286602_b13ed08e2998a1b6aa9910ee881109d7.jpg Z6525839992969_6faa64b79d12133b30a6be09333c5fe5.jpg Z6522677277438_440ab32a671b5e99abb2b9aed75d5c32.jpg Z6522676894451_54bbe0164d862e9e7964e7c2cf8d3bfb.jpg Z6522666617591_24680573b313b2baec1c521b4c60396a.jpg Z6522666570038_2168275e97cf6625d777fac458ce428a.jpg Z6522666545919_91e1eedd56a040b4859d86787b11d179.jpg Z6522666535329_72be407fee4a8d60558e6d779134523c.jpg Z6522666523051_d64865c4feada596bab0d1461be81b4a.jpg Z6522666394947_7045ae98392b026ee38c2bebf4fdf07f.jpg Z6522666404399_cea6f503563075330893134b01a1c8ef.jpg Z6522666410186_de8ccd7cd52da73b72a027e645127e36.jpg Z6522666432361_108e04e8938d2911413f6c50550fa418.jpg Z6399458934835_e3020adc140a1d52f3ff1d736da89bb6.jpg Z6170081214203_5d91029c28dcd8e5fbdb451d75abc93a.jpg HS_dang_tim_doc_sach_tai_kho_mo.jpg HS_dang_tim_doc_sach_tai_kho_mo_3.jpg HS_dang_tim_doc_sach_tai_kho_mo_1.jpg

    SÁCH ĐIỆN TỬ - SÁCH BÁC HỒ

    LIÊN KẾT LIÊN THƯ VIỆN

    💕💕 Bước vào thư viện, ta không chỉ chạm vào những trang sách mà còn chạm vào tâm hồn của những vĩ nhân vĩ đại nhất💕💕

    Ý nghĩa của sách trong cuộc sống

    Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Thẩm
    Ngày gửi: 17h:52' 11-03-2024
    Dung lượng: 1.4 MB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    Chia sẻ ebook : Chiasemoi.com

    NHẬT KÝ ĐẶNG THUỲ TRÂM













    Lời giới thiệu
    Câu chuyện về những tấm lòng
    NHỮNG NGÀY RỰC LỬA
    QUYỂN MỘT
    1969
    Năm qua thắng lợi vẻ vang
    Nơi ấy là khoảng trời anh ở
    QUYỂN HAI
    ĐẰNG SAU CUỐN NHẬT KÝ

    Liệt sĩ – bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm sinh ngày 26 tháng 11 năm 1942, trong một
    gia đình trí thức. Bố là bác sĩ ngoại khoa Đặng Ngọc Khuê, mẹ là dược sĩ Doãn
    Ngọc Trâm – Nguyên giảng viên trường Đại học Dược khoa Hà Nội.
    Tốt nghiệp trường Đại học Y khoa Hà Nội năm 1966, Thuỳ Trâm xung
    phong vào công tác ở chiến trường B. Sau ba tháng hành quân từ miền Bắc,
    tháng 3 năm 1967 chị vào đến Quảng Ngãi và được phân công về phụ trách bệnh
    viện huyện Đức Phổ, một bệnh viện dân y nhưng chủ yếu điều trị cho các thương
    bệnh binh.
    Chị được kết nạp Đảng ngày 27 tháng 9 năm 1968.
    Ngày 22 tháng 6 năm 1970, trong một chuyến công tác từ vùng núi Ba Tơ về
    đồng bằng, chị bị địch phục kích và hy sinh anh dũng lúc mới chưa đầy 28 tuổi
    đời, 2 tuổi Đảng và 3 năm tuổi nghề.
    Hài cốt của chị được đồng bào địa phương na táng tại nơi chị ngã xuống và
    luôn hương khói. Sau giải phóng, chị được gia đình và đồng đội đưa về nghĩa
    trang Liệt sĩ xả Phổ Cường. Năm 1990, gia đình đã đưa chị về yên nghĩ tại nghĩa

    trang Liệt sĩ xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội.
    Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu hai cuốn nhật ký của Liệt sĩ Đặng Thuỳ
    Trâm ghi trong những ngày ở chiến trường. Bản thân hai cuốn nhật ký này cũng
    có một số phận kỳ lạ: chúng rơi vào tay những con người có lương tri bên kia
    chiến tuyến, được họ giữ gìn và tìm mọi cách để đưa về cho gia đình chị. Sau
    hơn một phần ba thế kỷ lưu lạc, đúng vào dịp kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng
    miền Nam thống nhất đất nước (30.4.2005), nó đã trở về với gia đình liệt sĩ.
    Hiện cuốn nhật ký được lưu giữ tại Viện Lưu trữ về Việt Nam ở Lubbock, Texas,
    Mỹ.
    Trong quá trình biên soạn và chỉnh lý, chúng tôi cố gắng tôn trọng nguyên
    bản câu văn cũng như những thói quen dùng từ và ngữ pháp của tác giả - chỉ sửa
    lại một số từ địa phương hoặc lược bớt những từ trùng lặp. Chúng tôi cũng chú
    giải một số điểm cần thiết để bạn đọc có thể hiểu hơn hoàn cảnh cũng như lịch
    sử và bản thân tác giả.
    Ngoài ra, trong phần ảnh tư liệu, được phép của những người có liên quan,
    chúng tôi có sử dụng những bức ảnh trong album gia đình, ảnh chụp ở Quảng
    Ngãi trong những năm 1969 – 1970 do Frederic Whitehurst cung cấp và một số
    bức ảnh do liệt sĩ Nguyễn Văn Giá – Phóng viên hãng phim Thời sự - Tài liệu
    Việt Nam chụp tháng 10.1969 ở thôn Nga Mân, xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ Quảng Ngãi trước khi anh hy sinh.


    Lời giới thiệu

    Thời chống Mỹ từng có một bác sĩ,
    một con người, tên là Đặng Thuỳ Trâm…
    Tác giả những dòng nhật ký sua đây bạn đọc sẽ đọc thuộc về một lớp người
    khá đặc biệt trong đời sống tinh thần xã hội ta từ sau 1945 - họ có mặt trong
    công cuộc chiến đấu chống Mỹ từ mấy năm đầu tiên, khi ở miền Nam, các cơ sở
    cách mạng triển khai đến tận nhiều huyện đồng bằng, và trên toàn quốc, cuộc
    chiến tranh dù đã gian khổ nhưng chưa có cái không khí bức bối khắc nghiệt như
    từ đầu những năm 70 trở đi.
    Và một điều đáng nói nữa: trước đó, họ thuộc lứa thanh niên đầu tiên được
    đào tạo theo tinh thần của những người đi kháng chiến chống Pháp, cái tinh thần
    “cuộc sống mới”, ấp ủ từ những ngày Việt Bắc gian khổ mà hào hùng
    Hà Nội trước chiến tranh thanh bình, yên ả lạ thường. Bao trùm xã hội là một
    không khí thiêng liêng, thành kính. Ngay đối với người dân thường mọi chuyện
    làm ăn sinh sống chỉ có ý nghĩa là sự chuẩn bị cho ngày mai có mặt ở chiến
    trường. Nền kinh tế tem phiếu chưa làm mấy ai khó chịu. Trong tâm trí đám học
    trò chúng tôi (tôi với Thùy Trâm vốn học cùng lớp trong suốt ba năm cấp ba ở
    trường Chu Văn An, nên dưới đây, việc dùng chữ chúng tôi là có một lý do
    chính đáng) lúc nào cũng thấm đẫm tinh thần lãng mạn của Ruồi trâu, của Pavel
    Korsaghin trong Thép đã tôi thế đấy và cả của Marius và Cosette trong Những
    người khốn khổ. Sách vở lúc ấy là đồng nghĩa với văn hoá. Thêm một điã nhạc
    cổ điển, với một vài bông hoa trên bàn nữa thì coi như mãn nguyện hoàn toàn.
    Có mặt trong đám đông dự mít tinh ở quảng trường Ba Đình trong một ngày lễ
    lớn (trước 1965, những ngày lễ lớn bao giờ cũng có mít tinh, đâu cả chục ngàn
    người), anh bạn tôi mặt ngẩng cao dõi theo mấy cánh chim bay mãi vào những
    đám mây xa. Đêm giao thừa ngay khi có chiến tranh rồi thì mấy ngày Tết vẫn có
    ngừng bắn, cũng như mọi người, chúng tôi dắt xe đạp đi bộ quanh Hồ Gươm
    trong tiếng nhạc dập dìu của mấy bài Hà Nội Huế Sài Gòn, Tiếng hát giữa rừng
    Pắc Bó…
    Và có thể nói mà không sợ ngoa là từ đấy, nhiều người đi thẳng ra chiến
    trường.
    Nhật ký tôi viết mấy năm ấy còn ghi lại được hình ảnh về những người lính
    ớ đánh Khe Sanh 1967: Quần áo ba lô người nào cũng tinh tươm, niềm tin sáng
    bừng trong mắt, chỉ sợ không đi thì lỡ mất dịp có mặt trong lễ chiến thắng.

    Một niềm tin tưởng như chỉ có ở tôn giáo - thứ niềm tin mang đầy cảm giác
    thánh thiện - chi phối hành động mọi người. Lao vào chiến tranh lúc ấy không
    phải chỉ là nghĩa vụ mà còn là niềm ao ước, là vinh dự mà nhiều anh em chúng
    tôi cảm thấy phải giành lấu bằng được.
    Tốt nghiệp đại học 1966, Thuỳ Trâm lại xung phong đi khá xa, vào tận Đức
    Phổ, Quảng Ngãi. Ở đó chị làm công việc đặc trưng cho người phụ nữ trong
    chiến tranh là phụ trách một bệnh viện huyện, và từ đó tạo nên cho mình một số
    phận.
    Không phải ngẫu nhiên, hai người lính thám báo Mỹ hôm qua, trong bức thư
    gởi tới người mẹ của liệt sĩ vừa viết mới đây, khẳng định một cách chắc chắn
    như đinh đóng cột: “Trên bất cứ đất nước nào trên thế giới, điều đó đều được gọi
    là anh hùng”
    Họ muốn nói tới cái sự việc từng ám ảnh họ một thời gian dài: người bác sĩ
    này đã đứng ra cầm súng bảo vệ cho những thương binh, và đã ngã xuống như
    một người lính vừa rời tay súng.
    Tuy nhiên, theo tôi, trước khi để cái hành động dũng cảm cuốn cùng Thuỳ
    Trâm “đóng đinh” vào tâm trí mình, những người lính bên kia chiến tuyến thật ra
    đã bị chinh phục. Phải có một nhân tố nào nữa, thiết yếu hơn, khiến họ tự nhủ
    phải cứu bằng được cuốn nhật ký rồi bị hút theo chị, mải miết tìm cách giải mã
    những dòng chữ chị ghi và sau này còn để rất nhiều thời gian lần theo dấu vết
    của chị.
    Chỉ có toàn bộ con người Thuỳ Trâm mới đóng nổi vai trò đẹp đẽ đó.
    Gần đây, khi đi ra với thế giới, nhiều người trong chúng ta chợt hiểu ra một
    sự thực: hai chữ Việt Nam bấy lâu mới chỉ gắn với một cuộc chiến tranh. Và
    chúng ta còn phải phấn đấu nhiều để người ta hiểu rằng việt Nam còn là một xã
    hội, một đất nước, một nền văn hoá.
    Ngay từ lúc ấy, trong vai trò một chiến sĩ, Thuỳ Trâm đã tự chứng tỏ mình
    mình còn là một con người với nghĩa rộng rãi nhất của từ này.
    Một mặt, chị có ý thức về bổn phận. Chị yêu thương mọi người. Chị đau nỗi
    đau của mỗi bệnh nhân đến với mình. Chị muốn trở thành một người tốt. Những
    cách nói mà với một số bạn trẻ ngày nay tưởng như là công thức (chẳng hạn trái
    tim đập cùng một nhịp với nhân dân đất nước, chẳng hạn niềm yêu thương vô
    hạn độ) chính là những lẽ sống đã được Thuỳ Trâm tự nguyện chấp nhận.
    Mặt khác,chị vẫn dành riêng cho mình một cuộc sống riêng tư. Chị tha thiết
    với thiên nhiên cây cỏ. Một phần tháng ngày của chị được dệt bằng những vui
    buồn của quá khứ. Trong khi thất bại trong tình cảm riêng. con người này lại biết
    tìm ra ngay từ bằng người chung quanh những yếu tố tốt đẹp, rồi lý tưởng hoá
    thêm lên để biến họ thành những biểu tượng sinh động, bù đắp cho một cuộc
    đống nội tâm vốn quá dồi dào, quá nồng nhiệt.

    Có một quy ước những ai ở vào lứa tuổi chúng ta đều biết và tự nguyện ghi
    nhớ, tự nguyện tuân theo, đó là không nên nói nhiều đến cô đơn cùng nỗi buồn.
    Sự phức tạp của tình cảm lại càng là điều cấm kỵ.
    Cái gì cũng phải rành rẽ. Đơn giản. Rõ ràng - cái kiểu rõ ràng thô thiển một
    chiều. Về phần mình mặc dù là con người hết lòng tin vào lý tưởng, song Thuỳ
    Trâm không bị những luật lệ không ghi thành văn bản ấy ràng buộc. Với sự nhạy
    cảm của một trí thức, chị lắng nghe trong mình mọi băn khoăn xao động. Chị
    không xa lạ với những phân vân khó xử. Trong nhật ký, người nữ bác sĩ ghi ra
    gần hết tất cả những cung bậc tình cảm mà ai người ở vào địa vị ấy đều trải qua,
    và có cảm tưởng chỉ làm như vậy mới tìm được sự cân bằng cần thiết.
    Tuy cái chết không được miêu tả nhiều trong nhật ký, nhưng trong tâm trí
    Thuỳ Trâm, nó luôn luôn có mặt. Nó đứng thấp thoáng đằng sau các sự kiện, và
    cuộc đối diện với cái chết làm nên một phần nội dung cuộc sống, tức cũng là làm
    nên vẻ đẹp cao thượng của con người lúc đó mới 27 tuổi này. Đọc nhiều trang,
    nhất là nửa phần viết về sau, khi đề cập tới nhiều hy sinh mất mát, tôi không
    khỏi liên tưởng đến nhiều tác phẩm văn học có liên quan tới cùng một chủ
    đề.Đây là một bài thơ mà nhà thơ Nga Aleksei Surkov đã viết trong cuộc chiến
    tranh chống Phát xít:
    Trong hầm ta ánh lửa sáng ngời
    Từng thanh củi bọt sùi như lệ ứa
    Tiếng đàn dạo một điệu trầm và nhẹ
    Ca ngợi mắt em ca ngợi nụ cười em
    Anh ở đây trên tuyết gần Mạc Tư Khoa
    Những hàng dương đang ngọt ngào thầm thĩ
    Cái bản tình ca anh vừa hát ấy
    Bản tình ca buồn anh mong được em nghe
    Giữa đôi ta dù xa cách mênh mong
    Dù cái chết đến gần anh mấy bước
    Dù có cả một cánh đồng băng tuyết
    Trên đương dài ta vẫn đến gặp nhau
    Ta hát ta đàn ta dẹp yên bão táp
    Hạnh phúc mất ở ta dẫn nó trở về
    Tình yêu sưởi chiến hào thêm ấm áp
    Tình yêu này sáng mãi giữa tim anh.
    Tôi dự đoán là đã có những lúc Thuỳ Trâm sống cái cảm giác mà bài thơ
    diễn tả, dù là không biết gì về nó. Hồi ở Hà Nội, chị cũng rất thích âm nhạc và
    thường quan âm nhạc để hình dung ra những gì thiết yếu của đời sống - sự hoà
    hợp, tình yêu, hạnh phúc.
    * * *

    Ngoài những Thép đã tôi thế đấy, Ruồi trâu, thơ Từ ấy của Tố Hữu , thơ Đợi
    anh về của Simonov, vào những ngày đọc lại nhật ký của Đặng Thuỳ Trâm để
    góp phần chỉnh lý và biên tập lại thành một cuốn sách, thường trong đầu óc tôi
    còn trở đi trở lại một vài tác phẩm nước ngoài khác, đặc biệt là trường hợp Nhật
    ký Anne Frank.
    Chỗ giống nhau đầu tiên: Đây đều là những tác phẩm viết về con người đối
    diện với chiến tranh. Trong cuộc sống khó khăn của một người bị ép phải chui
    nhủi trong một nơi ẩn náu, cô thiếu nữ Do Thái mang tên Anne Frank vẫn tìm đủ
    không gian để thể nghiệm mọi cảm giác làm người bình thường, và điều đó làm
    cô tự hào.
    "Tôi có cái can đảm sống khác thường. Tôi luôn luôn cảm thấy mình sao
    khoẻ thế, sao tự do và trẻ trung thế."
    "Thật lạ cho điều này: tôi chưa bao giờ rời bỏ hy vọng. Chúng có vẻ phi lý
    và khó thành tựu. Song mặc tất cả, tôi vẫn bám vào chúng. Vì tôi tiếp tục tin vào
    lòng tốt thiên bẩm của con người."
    Những dòng chữ đơn giản đó hoàn toàn có thể đặt lẫn vào nhật ký Thuỳ
    Trâm mà không gượng gạo.
    Còn một đếm nữa làm nên sự gần gũi giữa Thuỳ Trâm với Anne Frank, nó
    cũng là lý do khiến bọn tôi chọn cho tập ghi chép của chị cái tên đơn giản như
    hiện nay, đó là cái thể loại mà họ sử dụng - thể nhật ký.
    Trong đời sống không thiếu gì những người khi bước vào đời háo hức định
    ghi nhật ký để rồi nửa đường đứt gánh bỏ dở. Khi bắt tay viết họ thường tự nhỉ
    mình sẽ thành thực với mình. Có biết đâu cái tôi của họ nghèo nàn nên đó là một
    sự thành thực vô nghĩa. Và họ không sao tìm đủ nghị lực duy trì nhật ký đến
    cùng.
    Anne Frank thú nhận:
    “Điều tuyệt diệu nhất là tôi có thể viết ra tất cả những gì cảm nghĩ bằng
    không sẽ chết ngạt mất".
    “Những người nào không viết không biết được những kỳ ảo của nó. Ngày
    xưa tôi luôn luôn đau đớn vì không biết vẽ; nhưng bây giờ lòng tôi phơi phới vì
    ít ra tôi đã có thể viết”.
    Thuỳ Trâm không có những tuyên bố hùng hồn như vậy, nhưng quả thật với
    chị, nhật ký đã trở thành một phần cuộc đời. Trong nhật ký chị tìm ra một con
    người khác với một Thuỳ Trâm mọi người vẫn biết hằng ngày. Để chia sẻ. Để
    thú nhận. Để tìm thêm niềm tin. Và đôi khi như là để làm nũng với mình một
    chút, lối làm nũng chỉ chứng tỏ rằng vẫn có một thế giới riêng của mình mà
    không ai thông cảm hết.
    Tất cả những yếu tố đó làm nên sức hấp dẫn của những trang nhật ký. Với
    chị, cái hấp dẫn ấy giúp chị có đủ hào hứng ghi chép một cách đều đặn. Với

    người đọc hôm nay, nó làm nên sức cuốn hút của những tâm sự, mặc dù trong
    hoàn cảnh đổi khác, mọi người đã nghĩ khác.
    Do đặc điểm riêng của chiến tranh, ngay từ những ngày ấy, bao nhiêu công
    sức chúng ta để cả vào việc động viên nhau ra trận. Còn chính cuộc sống mỗi
    người trong lúc đó thì mới được ghi chép rất ít. Ba mươi năm sau, sự “tiêu hoá”
    vẫn dừng lại ở trình độ cũ. Mỗi khi nói về chiến thắng, ta vẫn chỉ biết nói với
    nhau những lời lẽ mọi người đã từng nghe mấy chục năm trước. Tại sao? Phần
    thì những sôi động để kiếm sống để tồn tại lúc nào cũng cuốn hút mọi người.
    Phần nữa cũng là bởi ta chưa có ý thức đầy đủ về lịch sử, về sự có mặt của quá
    khứ trong hiện tại. Công tác tổng kết về chiến tranh quá chậm, các bộ phận lịch
    sử chiến tranh không hoạt động như đáng lẽ phải hoạt động. Mỗi người bình
    thường chưa được gợi ý thu thập lại các tài liệu đã ghi hoặc tìm tòi lại lục khi lại
    trong ký ức những kỷ niệm xưa để viết ra thành những hồi ký có giá trị chân
    thực.
    * * *
    Ngay sau khi biết rằng đây là một cuốn nhật ký viết trong chiến tranh, có thể
    có bạn đọc - nhất là bạn đọc trẻ - sẽ hỏi: Lại cho chúng tôi một tấm gương để
    bảo chúng tôi học theo chứ gì?
    Không đâu bạn ạ! Ở đây bạn sẽ không tìm thấy những lời khuyên nhủ mà chỉ
    bắt gặp một con người với một cuộc sống cụ thể của thời chiến. So với lớp thanh
    niên ngày nay, người thanh niên của gần bốn chục năm trước có một cách sống
    khác, một cách sống không lắm chiều cạnh phong phú, không tự do nhiều vẻ,
    nhưng lại trong sáng thánh thiện
    đến kỳ lạ. Sự tận tụy làm người của Thuỳ Trâm là nhân tố khiến cho những
    người lính Mỹ khác hẳn về lý tưởng cũng phải kính trọng. Còn với chúng ta, tin
    rằng nó cũng có những hiệu ứng tương tự.
    Trong cuốn lịch sử văn học thế kỷ XX đang có trong tay, tôi bắt gặp một
    nhận xét của A. Malraux: "Điều huyền bí hơn cả không phải là chúng ta bị ném
    vào mớ hỗn độn vật chất cùng với hành tinh, mà là trong “lao tù” đó, chúng ta
    rút tỉa từ bản thân cá nhân mình những nhân tố con người - nó cần vừa đủ để cái
    hư không sẵn có trong chúng ta bị phủ nhận”
    Câu nói mang trong mình nó nhiều triết lý, mà một trong những triết lý đó là:
    trong sự muôn mày muôn vẻ của thực tại, con người vẫn là mẫu số chung làm
    nên những giá trị vĩnh cửu.
    Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm có cái nhân tố nhân văn đầy bí mật đó. Nếu cuốn
    sách có thể giúp mỗi người sau khi đọc xong quay trở tại tìm ra những thiết tha
    cao đẹp và cả những cay đắng bi thảm có thể có trong kiếp người của chính
    mình, tức là sự hy sinh của một con người ở 27 có thêm một ý nghĩa chân chính.
    VƯƠNG TRÍ NHÀN



    Câu chuyện về những tấm lòng
    Sáng 25-4-2005, tôi nhận được một cú điện thoại bất ngờ. Đó là điện thoại
    gọi đến từ văn phòng Quaker Hà Nội. Người của văn phòng báo tin hiện có một
    người Mỹ đang giữ cuốn nhật ký của chị gái tôi - liệt sĩ Đặng Thùy Trâm. Chị
    Thùy của chúng tôi.
    Chị tôi hi sinh năm 1970 tại chiến trường Quảng Ngãi. Cống hiến của chị tôi
    ghi trong hồ sơ đề nghị truy tặng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì
    rất đơn sơ: bác sĩ, hi sinh tại chiến trường. Thời gian công tác: năm năm, ba
    tháng, năm ngày...
    Những kỷ vật còn lại của chị tôi do đồng đội gửi về chỉ gồm mấy tấm ảnh,
    một số thư của gia đình từ miền Bắc gửi vào. Các anh cũng nói chị tôi có ghi
    nhật ký – đó là thói quen của chị tôi từ nhỏ - nhưng đã bị giặc lấy đi trong một
    trận càn.
    * * *
    Trung tuần tháng 3-2005, một cuộc hội thảo thường niên về chiến tranh VN
    được tổ chức tại Trung tâm Việt Nam - Đại học Texas, Mỹ. Rất nhiều người đến
    dự. Tại hội thảo, người ta thảo luận về chiến tranh VN ở nhiều khía cạnh khác
    nhau. Frederic Whitehurst và Robert Whitehurst đã đến với bài nói về nhật ký
    của một nữ bác sĩ Việt cộng mà Frederic nhận được khi tham gia chiến tranh ở
    VN. Sự kiện thu hút được sự chú ý của người nghe qua lời kể xúc động của Fred
    về quá trình từ lúc nhận được cuốn nhật ký cho tới lúc quyết định tặng nó cho
    viện lưu trữ về Việt Nam ở Lobbock, cũng như qua những trang nhật ký đầy tình
    yêu thương và khát vọng hoà bình đã được Robert dịch sang tiếng Anh. Buổi hội
    thảo kết thúc, mọi người xôn xao đặt ra nhiều câu hỏi, nhiều người ngỏ ý muốn
    giúp Fred tìm gia đình nữ bác sĩ.
    Ted Engelmann là một trong những người có mặt ở hội thảo. Ba ngày sau khi
    hội thảo kết thúc, Ted sang VN. Ở Hà Nội, anh đã nhờ một người bạn làm ở văn
    phòng Quaker Hà Nội tìm giúp gia đình bác sĩ Đặng Ngọc Khuê. Những nhân
    viên ở đây rất nhiệt tình, lần theo manh mối ít ỏi có trong cuốn nhật ký, họ đã
    tìm sang tận Đông Anh, nơi bố tôi làm việc từ gần 50 năm trước. Nhưng ở đó,
    người duy nhất làm việc cùng thời với bố tôi cũng đã nghỉ hưu từ năm 2000.
    Bệnh viện Đông Anh cử người về tận quê ông để hỏi địa chỉ gia đình tôi. Ông lại
    chỉ sang Trường đại học Dược Hà Nội, nơi mẹ tôi công tác trước khi về nghỉ hưu
    từ 20 năm trước. Cứ như thế, bao trái tim nhân hậu đã chuyển tiếp cho nhau tín
    hiệu để cuối cùng giúp Ted tìm được gia đình tôi và trao lại chiếc đĩa CD chứa
    đựng tâm huyết của người viết nhật ký 35 năm về trước.

    Những ngày sau đó tôi nhận được rất nhiều thư của hai anh em Frederic
    Whitehurst và Robert Whitehurst. Họ kể về những năm tháng ở VN và hành
    trình bao năm qua họ đã tìm kiếm gia đình tôi như thế nào. Có những lúc họ
    tưởng như tuyệt vọng không thể nào tìm được gia đình tôi, đã sợ rằng khi họ
    chết đi, hai cuốn nhật ký của chị tôi sẽ nằm trong đống giấy má bình thường
    không ai biết đến, bị quẳng đi, bị mục nát, bị quên lãng. Họ nói với tôi rằng vì
    không còn hi vọng tìm được gia đình tôi, họ đã có ý định in hai cuốn nhật ký
    thành sách để cả thế giới được biết về một nữ bác sĩ cộng sản người Hà Nội đã
    sống và đã chết ra sao. Họ mong rằng từ cuốn sách đó sự nghiệp y tế của chị tôi
    sẽ còn được tiếp nối... Và trong nỗi tuyệt vọng như thế, họ đã trao tặng hai cuốn
    nhật ký cho Viện lưu trữ về VN Lubbock tại Trường đại học Tổng hợp Texas, để
    chúng có thể được gìn giữ và chăm chút hơn khả năng họ có thể làm được.
    Dưới đây là bức thư đầu tiên của Fred gửi cho tôi:
    “Thứ sáu 29-4-2005
    Tôi là Frederic Whitehurst. Tôi đã giữ ký ức về chị cô, bác sĩ Đặng Thùy
    Trâm, 35 năm nay. Tôi đã giữ cuốn nhật ký của chị ấy suốt 35 năm. Ted
    Engelmann - người tôi chỉ mới vừa biết - nói với tôi rằng anh ấy đã đến nhà cô
    và hiện nay cô đã nhận được bản copy của hai cuốn nhật ký cùng những bức
    ảnh. Có bao nhiêu điều tôi phải nói với cô, với gia đình cô và đặc biệt là với mẹ
    cô. Sau bao nhiêu năm tìm kiếm, điều này giống như một giấc mơ và việc tìm ra
    gia đình cô khiến tôi bật khóc. Một người mẹ phải được biết về những ngày
    tháng của con gái mình, một đất nước phải được biết về một người anh hùng
    như bác sĩ Đặng. Mọi việc dường như thật thích hợp, mẹ cô cần phải nhận được
    những dòng chữ của con gái mình đúng vào dịp kỷ niệm 30 năm giải phóng đất
    nước bà - 30-4-2005...”.
    Frederic Whitehurst - thường gọi là Fred là một sĩ quan quân báo Mỹ tham
    chiến ở chiến trường Đức Phổ, Quảng Ngãi từ năm 1969-1971. Trong chiến
    tranh, nhiệm vụ của Fred là thu thập các thông tin, tài liệu có giá trị quân sự để
    phân tích tình hình, truy tìm dấu tích quân giải phóng, định hướng tập kích hay
    càn quét. Nhiệm vụ đó khiến Fred có thể nhìn cận cảnh cuộc chiến tranh và
    chứng kiến tận mắt những mất mát khủng khiếp - cả đối với phía VN lẫn phía
    Mỹ. Fred đã chứng kiến cảnh “cả một xóm nhỏ Nhơn Phước ở miền tây Đức
    Phổ bị bom giội tan hoang không còn một người sống” (thư ngày 4-6-2005).
    Fred đã nhìn thấy những em nhỏ ở Chu Lai bị thiêu cháy trong bom napalm.
    Fred đã chứng kiến viên trung úy chỉ huy trực tiếp của mình gần như mất trí vì
    không chịu nổi cảnh các nhân viên y tế Mỹ “đơn giản cứ nhặt bừa bất kỳ một
    cánh tay, cẳng chân nào đó lắp vào xác bạn mình cho vào quan tài gửi về Mỹ”
    (thư ngày 4-6-2005). Những cảnh chứng kiến đó đã ám ảnh Fred trong bao năm
    nay từ khi rời VN trở về.

    Nhưng cũng từ những ngày khốc liệt đó, Fred đã nhìn thấy cuộc chiến tranh
    từ một ánh sáng hoàn toàn khác biệt.
    Trong một trận tập kích vào một “căn cứ của Việt cộng”, sau khi tiếng súng
    đã im, đơn vị của Fred tiến vào và nhận thấy đây là một bệnh viện nhỏ. Có rất
    nhiều lán trại, nhiều phòng - rõ ràng là phòng bệnh, cả một phòng mổ dã chiến.
    Có vẻ mọi người trong bệnh viện đã vội vã đi khỏi ngay trước khi quân Mỹ ập
    tới và không kịp mang theo tài liệu.
    Theo qui định của quân đội Mỹ, mọi tài liệu của địch thu được trên chiến
    trường phải chuyển lại cho bộ phận quân báo nghiên cứu. Hôm đó Fred thu nhặt
    được rất nhiều tài liệu. Cùng với thông dịch viên người Việt, Fred chọn lọc các
    tài liệu có giá trị quân sự, số còn lại họ vứt vào đống lửa để thiêu hủy.
    Fred đang đốt những tài liệu loại bỏ thì thượng sĩ Nguyễn Trung Hiếu thông dịch viên của đơn vị - cầm một cuốn sổ nhỏ đến cạnh anh và nói: “Fred,
    đừng đốt cuốn sổ này. Bản thân trong nó đã có lửa rồi”. Fred chưa hiểu đó là
    cuốn sổ gì, nhưng vẻ xúc động của Hiếu và việc Hiếu có thể kính trọng cả đối
    phương tác động rất mạnh đến anh, Fred bỏ cuốn sổ vào túi.
    Nhiều đêm sau đó Fred và Hiếu cùng nhau đọc cuốn sổ. Đó là nhật ký của
    một Việt cộng, chính là nữ bác sĩ đứng đầu cái bệnh viện nhỏ mà đơn vị Fred
    càn vào. Nét chữ nghiêng nghiêng đầy nữ tính. Anh càng tò mò hơn khi Hiếu
    cho biết nữ bác sĩ đó còn rất trẻ, mới 26 tuổi và từ Hà Nội vào Đức Phổ công tác
    chưa được hai năm.
    Rồi như một định mệnh, mấy tháng sau Fred nhận được cuốn nhật ký thứ hai
    của nữ bác sĩ, cũng do Nguyễn Trung Hiếu đem về. Những dòng chữ rực lửa
    khiến Fred vô cùng xúc động - mặc dù anh chỉ được nghe qua lời dịch vội của
    Nguyễn Trung Hiếu và đó là những dòng chất chứa căm thù đối với quân Mỹ.
    Những dòng đầy yêu thương, hi vọng khiến anh vô cùng ngạc nhiên. Anh không
    hiểu nổi bắt nguồn từ đâu mà một người con gái có thể nhìn thấy cái đẹp của
    màu xanh giữa chiến trường mịt mù bom đạn, vì sao cô ấy có thể nghe nổi bản
    giao hưởng êm đềm khi quân Mỹ gần như luôn bám sát sau lưng.
    Năm 1972, Fred được rời VN và trở về Mỹ. Trong hành lý của anh có những
    kỷ vật nặng trĩu của chiến tranh: hai cuốn nhật ký của nữ bác sĩ, hơn 50 tấm ảnh
    chụp những người dân Quảng Ngãi trong chiếc máy ảnh Canon bị bắn thủng lấy
    được trên xác một phóng viên Việt cộng, chiếc đục nhỏ rơi bên xác một người
    thợ mộc già bị giết hại. Cũng từ đó VN trở thành một nỗi ám ảnh trong anh.
    Năm tháng trôi qua, với những ám ảnh về chiến tranh, về tội ác đã được
    chứng kiến ở Việt Nam đè nặng trong tim, Fred đã nhiều lần quay lưng lại với
    cái xấu, không chấp nhận cái xấu – dù chỉ là gián tiếp. Anh đã tìm được nhiều
    điều tốt đẹp, đã từng kiện cả Cục điều tra Liên bang Mỹ (FBI), cả giám đốc FBI,
    cả chính phủ Mỹ vì những việc làm sai trái và đã thắng tất cả những thế lực đó

    trong một vụ kiện nổi tiếng cả trong nước Mỹ lẫn trên thế giới. Một lúc khác tôi
    sẽ nói thêm nhiều về anh.

    Mẹ của Fred là một nhà giáo và là họa sĩ. Khi Fred cho mẹ xem cuốn nhật
    ký, bà đã bảo con trai hãy cẩn thận, bởi vì hai cuốn sổ này có thể thiêu cháy cuộc
    đời anh.
    Quả vậy, trái tim Fred luôn bị nung ngấu vì ngọn lửa toả ra từ hai cuốn sổ
    nhỏ ố vàng. Anh không thể nào ngủ yên mà cứ trăn trở muốn làm một cái gì vì
    người nữ bác sĩ ấy. Chị còn sống hay đã chết? Nếu đã chết có phải chị chết một
    cách tuyệt vời đúng như đã sống cuộc đời tuyệt vời mà anh đọc được qua nhật
    ký? Gia đình nữ bác sĩ ở đâu? Mẹ chị có biết rằng bà có một người con gái anh
    hùng đến thế nào không?
    Fred đã nhiều lần thử tìm đến gia đình nữa bác sĩ. Qua những trang nhật ký,
    anh biết chị tốt nghiệp trường Đại học Y khoa Hà Nội, nên lục tìm khắp nơi mọi
    thông tin chi tiết về trường đó mong có manh mối gì chăng. Anh bắt gặp tên tuổi
    hai giáo sư nổi tiếng là Giáo sư Đặng Văn Chung và Giáo sư Đặng Văn Ngữ.
    Anh biết tên chị là Đặng Thuỳ Trâm - biết đâu họ đều là người trong dòng họ
    Đặng? Anh biết mẹ chị tên là Doãn Ngọc Trâm, nhưng địa chỉ của bà chỉ là một
    dãy số bí ẩn ghi ở cuối cuốn nhật ký. Anh biết bố chị là bác sĩ Đặng Ngọc Khuê,
    giám đốc một bệnh viện cách Hà Nội không xa. Anh đoán đó là bệnh viện tư của
    gia đình chị - rõ ràng chị xuất thân từ một gia đình trí thức. Anh biết nhà chị ở
    một phố nhỏ tên là Lò Đúc. Nhưng anh cũng biết trong chiến tranh Hà Nội đã bị
    ném bom. Biết đâu gia đình chị cũng đã chết hết trong một trận bom nào đó?
    Anh đã hỏi nhiều người, nhưng những năm sau chiến tranh tìm một người nào
    đó ở Việt Nam là điều hầu như không thể đối với anh. Mãi cách đây mấy năm
    mới có một người bạn liên hệ được với họ hàng ở Hà Nội và nói với anh rằng gia
    đình bác sĩ Đặng Ngọc Khuê vẫn còn sống. Nhưng không hiểu sao người đó
    không muốn tìm tiếp và bảo anh đừng nói thêm với cô về cuốn nhật ký nữa.
    * * *
    Robert Whitehurst cũng là một cựu chiến binh ở chiến trường VN nhưng
    chưa từng có mặt ở chiến trường Nam Trung bộ. Hai năm hoạt động ở vùng
    đồng bằng sông Cửu Long khiến Rob đem lòng yêu mến miền đất này cùng
    những con người VN hiền hòa, giàu tình cảm. VN đã trở thành một phần đời của
    Rob vì anh cưới một người con gái xứ Long Xuyên. Anh học tiếng Việt, thích ăn
    món ăn Việt, thích đem những cây cỏ VN về Mỹ để trồng, thậm chí có lần còn
    cố gửi về Mỹ một chiếc xuồng ba lá để vợ đỡ nhớ quê.
    Rob được đọc cuốn nhật ký của bác sĩ Thùy Trâm sau khi từ Mỹ trở về năm
    1972. Ngay từ đầu cuốn nhật ký đã khiến anh sửng sốt. Cùng với sự giúp đỡ của
    vợ, anh đọc đi đọc lại cuốn nhật ký, càng đọc anh càng bị lay động trước những

    gì diễn ra trong tâm hồn người con gái ở bên kia chiến tuyến. Anh viết cho mẹ
    tôi: “Tất cả những ai từng được chúng tôi cho xem cuốn nhật ký đều xúc động
    trước những điều chị cô viết. Chúng tôi nghĩ chị không chỉ là một anh hùng của
    riêng ai, nghĩa là mặc dù những ký ức của chị rất quí giá đối với cô cũng như
    đối với chúng tôi, nhưng sự nghiệp của chị còn rất có ý nghĩa với tất cả mọi
    người. Những dòng chữ của chị có một sức kêu gọi tuyệt vời.Mặc dù chị ở bên
    kia chiến tuyến trong cuộc chiến tranh giữa chúng ta, nhưng ngay từ đầu những
    năm 1970, Fred và tôi đã cảm thấy chị vô cùng đáng ngưỡng mộ, đáng tôn kính
    và là một người tốt. Hi vọng sau khi đọc những dòng chữ viết từ quá khứ ấy, cô
    sẽ đồng ý với chúng tôi... rằng theo một nghĩa nào đó chị là của riêng gia đình
    cô, nhưng theo một nghĩa rất quan trọng chị là của tất cả chúng ta” (thư ngày
    29-4-2005).
    Rồi Rob tìm được trên mạng Internet một nơi gọi là Trung tâm VN
    (Vietnam Center) ở Trường đại học Tổng hợp Texas và biết rằng tại đây người ta
    vẫn tổ chức hội thảo thường niên về chiến tranh VN. Có rất nhiều người tới dự
    hội thảo này: các học giả, các vị đại sứ, các viên tướng, các cựu chiến binh VN
    của cả hai phía miền Nam và miền Bắc. Robert động viên Fred đến dự hội thảo
    và nói về cuốn nhật ký của nữ bác sĩ. Cuộc hội thảo diễn ra như tôi đã nói lúc
    đầu. Trong sự xúc động sâu sắc, Fred và Rob đưa cho nhiều người đĩa CD chứa
    bản sao cuốn nhật ký của chị tôi, mong rằng giống như trong câu chuyện cổ tích
    tốt đẹp nọ, cuốn nhật ký sẽ tìm được về với quê hương, về với gia đình người nữ
    bác sĩ mà họ ngưỡng mộ như một anh hùng.
    ĐẶNG KIM TRÂM


    NHỮNG NGÀY RỰC LỬA


    QUYỂN MỘT


    1968

    8.4.68
    Một cas ruột thừa trong điều kiện thiếu thốn. Thuốc giảm đau chỉ có vài ống
    Novocaine nhưng người thương binh trẻ không hề kêu la một tiếng. Anh còn
    cười động viên mình - nhìn nụ cười gượng trên đôi môi khô vì mệt nhọc, mình
    thương anh vô cùng. Rất đau xót rằng sự nhiễm trùng trong ổ bụng không do
    ruột thừa vỡ. Tìm kiếm gần một giờ không thấy nguyên nhân, mình đành đóng
    lại, cho đặt dẫn lưu và đổ kháng sinh trong ổ bụng. Nỗi băn khoăn của một
    người thầy thuốc + nỗi thương xót mến phục người thương binh ấy làm mình
    không thề yên bụng. Vuốt nhẹ mái tóc anh, mình muốn nói với anh rằng: với
    những người như anh mà tôi không cứu chữa được thì đó là điều đau xót khó mà
    phai đi trong cuộc đời phục vụ của một người thầy thuốc.
    10 4.58
    Vậy là chiều nay các anh lên đường để lại cho mọi người một nỗi nhớ mênh
    mông giữa khu rừng vắng vẻ. Các anh đi rồi nhưng tất cả nơi đây còn ghi lại
    bóng dáng các anh: những con đường đi, những chiếc ghế ngồi chơi xinh đẹp,
    những câu thơ thắm thiết yêu thương. Nghe anh Tuấn ra lệnh: “Tất cả ba lô lên
    đường!”. Những chiếc ba lô vụng về may bằng những tấm bao Mỹ đã gọn gàng
    trên vai, mọi người còn nấn ná đứng lại trước mình bắt tay chào mình một lần
    cuối. Bỗng dưng một nỗi nhớ thương kỳ lạ đối với miền Bắc trào lên trong mình
    như mặt sông những ngày mưa lũ và… mình khóc ròng đến nỗi không thể đáp
    lại lời chào của mọi người. Thôi! Các anh đi đi, hẹn một ngày gặp lại lại trên
    miền Bắc thân yêu…
    Suốt một đêm một ngày lo lắng vì cas mổ của San, chiều nay lòng mình vui
    sướng xiết bao khi thấy San ngồi dậy, nét mặt anh còn in nỗi đau đớn mệt nhọc
    nhưng nụ cười ngượng nở trên môi. Bàn tay anh khẽ nắm bàn tay mình mến
    thương tin tưởng ơi người thương binh trẻ tuổi dũng cảm kia ơi, tôi thương anh
    bằng một tình thương rộng rấl nhưng rất sâu xa: tình thương cửa một người thầy
    thuốc trước bệnh nhân, tình thương của một người chị đối với đứa em đau ốm
    (thực ra San bằng tuổi mình) và tình thương ấy đặc biệt hơn đối với mọi người vì
    cộng thêm că lòng mến phục. Anh có thấy điều đó trong cái nhìn lo âu...
     
    Gửi ý kiến

    KÍNH CHÀO QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ GHÉ TƯỜNG WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS NGÔ MÂY!

    Những quyển sách làm say mê ta đến tận tủy, chúng nói chuyện với ta, cho ta những lời khuyên và liên kết với ta bởi một tình thân thật sống động và nhịp nhàng.