DANH NGÔN HAY

Theo tâm lý học, giữ im lặng không có nghĩa là bạn không có gì để nói, mà là bạn cho rằng họ chưa sẵn sàng để nghe suy nghĩ của bạn. - Khuyết Danh

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    BẢN TIN HÔM NAY

    Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z6522676591609_b3e220003660ce9886025cb13cd6e2c4.jpg Z6522677129001_17bd516d35a011319452a82197a3aa73.jpg Z6522677286602_b13ed08e2998a1b6aa9910ee881109d7.jpg Z6525839992969_6faa64b79d12133b30a6be09333c5fe5.jpg Z6522677277438_440ab32a671b5e99abb2b9aed75d5c32.jpg Z6522676894451_54bbe0164d862e9e7964e7c2cf8d3bfb.jpg Z6522666617591_24680573b313b2baec1c521b4c60396a.jpg Z6522666570038_2168275e97cf6625d777fac458ce428a.jpg Z6522666545919_91e1eedd56a040b4859d86787b11d179.jpg Z6522666535329_72be407fee4a8d60558e6d779134523c.jpg Z6522666523051_d64865c4feada596bab0d1461be81b4a.jpg Z6522666394947_7045ae98392b026ee38c2bebf4fdf07f.jpg Z6522666404399_cea6f503563075330893134b01a1c8ef.jpg Z6522666410186_de8ccd7cd52da73b72a027e645127e36.jpg Z6522666432361_108e04e8938d2911413f6c50550fa418.jpg Z6399458934835_e3020adc140a1d52f3ff1d736da89bb6.jpg Z6170081214203_5d91029c28dcd8e5fbdb451d75abc93a.jpg HS_dang_tim_doc_sach_tai_kho_mo.jpg HS_dang_tim_doc_sach_tai_kho_mo_3.jpg HS_dang_tim_doc_sach_tai_kho_mo_1.jpg

    SÁCH ĐIỆN TỬ - SÁCH BÁC HỒ

    LIÊN KẾT LIÊN THƯ VIỆN

    💕💕 Bước vào thư viện, ta không chỉ chạm vào những trang sách mà còn chạm vào tâm hồn của những vĩ nhân vĩ đại nhất💕💕

    Ý nghĩa của sách trong cuộc sống

    Ngữ văn 9. Bài 10. Nghị luận trong văn bản tự sự

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Thẩm
    Ngày gửi: 15h:33' 11-02-2025
    Dung lượng: 2.2 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    CHỦ ĐỀ 17: YẾU TỐ NGHỊ LUẬN
    TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ
    NỘI DUNG 1:
    NGHỊ LUẬN TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ

    NGHỊ LUẬN TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ
    I. Tìm hiểu yếu tố nghị luận trong văn bản tự sự
    1. Ví dụ: SGK/137

    NGHỊ LUẬN TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ
    I. Tìm hiểu yếu nghị luận trong văn bản tự sự
    1. Ví dụ.
    a) Chao ôi ! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố
    tìm mà hiểu họ thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu
    xa, bỉ ổi… toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn ; không bao giờ ta
    thấy họ là những người đáng thương;không bao giờ ta thương…
    Vợ tôi không ác, nhưng thị khổ quá rồi. Một người đau chân có
    lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến cái gì
    khác đâu? Khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn nghĩ gì
    đến ai được nữa. Cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo
    lắng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất. Tôi biết vậy, nên tôi chỉ buồn
    chứ không nỡ giận
    (Nam Cao – Lão Hạc)

    NGHỊ LUẬN TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ
    I. Tìm hiểu yếu nghị luận trong văn bản tự sự
    1. Ví dụ:
    b)
    Thoắt trông nàng đã chào thưa:
    “Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!
    Đàn bà dễ có mấy tay,
    Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan!
    Dễ dàng là thói hồng nhan,
    Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”.
    Hoạn thư hồn lạc phách xiêu,
    Khấu đầu dưới trướng liệu điều kiêu ca.
    Rằng: “Tôi chút phận đàn bà,
    Ghen tuông thì cũng người ta thường tình

    Nghĩ cho khi gác viết kinh,
    Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.
    Lòng riêng riêng những kính yêu,
    Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai.
    Trót lòng gây việc chông gai,
    Còn nhờ lượng bể thương bài nàochăng”
    Khen cho: “Thật đã nên rằng,
    Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời.
    Tha ra thì cũng may đời,
    Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen”
    (Nguyễn Du – Truyện Kiều)

    NGHỊ LUẬN TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ
    I. Tìm hiểu yếu nghị luận trong văn bản tự sự
    1. Ví dụ.

    Đoạn a: Là suy nghĩ nội tâm của nhân vật ông giáo, ông tự thuyết
    phục chính mình rằng vợ mình không ác, nên chỉ buồn.

    * Lập luận:
    - Nêu vấn đề: Nếu ta không tìm mà hiểu những người ở xung quanh ta thì ta sẽ có cớ
    Nội dung của đoạn trích là gì?
    tàn nhẫn và độc ác với họ.
    - Phát triển vấn đề: Vợ tôi không phải là người ác, nhưng sở dĩ thị trở nên ích kỉ, tàn
    nhẫn là vì thị đã quá khổ: ? Để làm được điều đó, tác giả đã đưa ra
    + Khi người ta đau chân thìnhững
    chỉ nghĩluận
    đến điểm
    cái chân
    & đau
    cách lập luận như thế
    + Khi người ta khổ thì người
    ta không còn nghĩ đến ai được nữa
    nào?
    + Vì cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất.

    - Kết thúc vấn đề: “Tôi biết vậy nên tôi chỉ buồn chứ không nỡ giận”.
    * Về hình thức: Dùng các câu khẳng định,ngắn gọn các câu hô ứng thể hiện các
    phán đoán như : Nếu …thì, vì thế …cho nên, sở dĩ …là vì,…

    Các câu văn trong đoạn trích thường là loại câu gì?

    Ta thấy những người xung quanh ta tàn nhẫn vì ta không cố hiểu họ
    Sự nhìn nhận của ông giáo về một người quanh ông (vợ ông )

    Họ đau chân thì chỉ
    nghĩ cái chân đau của
    họ

    Họ khổ thì họ không
    nghĩ đến ai

    Cái tốt của họ bị buồn đau, lo
    lắng, ích kỷ che lấp mất

    Biết vậy nên chỉ buồn mà không giận

    NGHỊ LUẬN TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ
    I. Tìm hiểu yếu nghị luận trong văn bản tự sự
    1. Ví dụ.
    Đoạn b: Đoạn trích “Kiều báo ân báo oán” ? Em có nhận xét gì về cách lập
    luận của Hoạn Thư?
    - Cuộc đối thoại giữa Kiều và Hoạn Thư
    - Lập luận của Kiều:
    + Xưa nay mấy người đàn bà ghê gớm, cay nghiệt như mụ  càng chuốc lấy
    oan trái.
    - Lập luận của Hoạn Thư để tự bào chữa cho mình:
    - Thứ nhất: Tôi là đàn bà nên ghen tuông là chuyện thường tình.(lẽ thường)
    - Thứ hai: Ngoài ra tôi cũng đối xử rất tốt với cô.Khi cô trốn không đuổi
    KiÒulµđã®o¹n
    nãi vÒ®èi
    Ho¹n
    Thư­như
    §©y
    tho¹i
    theo.(kể công)
    Hoạn
    Thư cảnh
    lập
    luận
    như
    thế
    thÕ
    nµo?
    - Thứ ba: Tôigi÷a
    với
    cô ai
    trong
    chồng
    chung.
    Chắc
    gì ai nhường cho ai.
    víiđãai?
    nàodùđể
    chữa
    cho
    mình
    - Thứ tư: Nhưng
    saotự
    tôibào
    đã trót
    gây đau
    khổ
    cho cô?nên bây giờ chỉ biết
    trông nhờ vào lượng khoan dung rộng lớn của cô.(nhận tội và đề cao tâng
    bốc Kiều)
    => Lí lẽ sắc bén, lập luận hợp lí.

    Thuý Kiều

    Khẳng định Hoạn Thư là người đàn bà cay nghiệt, ghê gớm.

    Hoạn Thư

    Biện minh cho sự ghê gớm của mình

    (1) Đàn bà ghen
    là thường

    (2) Đã từng đối
    xử tốt với cô

    Thuý Kiều

    (3) Chung chồng
    chắc gì đã nhường

    (4) Trước đây đã gây ...
    mong khoan dung

    Công nhận tài biện minh của Hoạn Thư nên băn khoăn khó xử

    *Nhận xét.
    a) Suy nghĩ nội tâm của ông giáo, ông giáo đối thoại
    với chính mình, thuyết phục chính mình rằng vợ mình
    không ác để “chỉ buồn chứ không nỡ giận”
    b) Cuộc đối thoại giữa Kiều và Hoạn Thư diễn ra dưới
    hình thức lập luận.
    => Nghị luận trong văn bản tự sự là các cuộc đối
    thoại với các nhận xét, phán đoán, lý lẽ nhằm thuyết
    phục người nghe.

    NGHỊ LUẬN TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ
    I. Tìm hiểu yếu tố nghị luận trong văn bản tự sự
    1. Ví dụ.
    * Nhận xét:
    a) Suy nghĩ nội tâm của ông
    giáo, ông giáo đối thoại với
    chính mình, thuyết phục chính
    mình rằng vợ mình không ác để
    “chỉ buồn chứ không nỡ giận”
    b) Cuộc đối thoại giữa Kiều và
    Hoạn Thư diễn ra dưới hình
    thức lập luận .
    => NL trong văn bản tự sự là
    các cuộc đối thoại với các nhận
    xét, phán đoán, lý lẽ nhằm
    thuyết phục người nghe.

    NGHỊ LUẬN TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ
    I. Tìm hiểu yếu nghị luận trong văn bản tự sự.
    1. Ví dụ.
    * Nhận xét.
    - Nội dung của yếu tố nghị luận trong văn bản tự sự: thực chất là các
    cuộc đối thoại với các nhận xét, phán đoán các lí lẽ, dẫn chứng nhằm
    thuyết phục người đọc, người nghe.

    Nội dung của yếu tố nghị luận trong văn
    - Tác dụng: làm cho
    bảncâu
    tựchuyện
    sự? thêm phần triết lí
    2. Ghi nhớ:

    Trong văn bản tự sự để người đọc (người nghe) phải suy nghĩ về
    ? Việc sử dụng yếu tố nghị luận
    một vấn đề nào đó, người viết ( người kể) và nhân vật có khi nghị
    vănlên
    bản
    có nhận
    tác dụng
    luận bằng trong
    cách nêu
    cáctựýsự
    kiến,
    xét cùng những lí lẽ và
    nào?
    dẫn chứng.như
    Nộithế
    dung
    đó thường được diễn đạt bằng hình thức lập
    luận, làm cho câu chuyện thêm phần triết lí.

    NGHỊ LUẬN TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ
    I. Tìm hiểu yếu tố nghị luận trong văn bản tự sự
    1. Ví dụ.
    * Nhận xét:
    a) Suy nghĩ nội tâm của ông
    giáo, ông giáo đối thoại với
    chính mình, thuyết phục chính
    mình rằng vợ mình không ác để
    “ chỉ buồn chứ không nỡ giận”
    b) Cuộc đối thoại giữa Kiều và
    Hoạn Thư diễn ra dưới hình thức
    lập luận .
    => NL trong văn bản tự sự là các
    cuộc đối thoại với các nhận xét,
    phán đoán, lý lẽ nhằm thuyết
    phục người nghe.

    2. Ghi nhớ

    NGHỊ LUẬN TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ
    I. Tìm hiểu yếu nghị luận trong văn bản tự sự
    II. Luyện tập
    Bài tập 1. Phân tích để thấy được lời độc thoại của ông giáo như một
    cuộc đối thoại.
    - Lời độc thoại của ông Giáo, như cuộc đối thoại ngầm.
    - Ông Giáo đối thoại với chính mình, đang thuyết phục chính
    mình, rằng vợ ông không ác “chỉ buồn chứ không nỡ giận”
    - Thuyết phục về đạo lí của cuộc sống.

    NGHỊ LUẬN TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ
    I.Tìm hiểu yếu nghị luận trong văn bản tự sự
    II. Luyện tập
    Bài tập 1.
    Bài tập 2. Ở đoạn trích (b) mục I.1 Hoạn Thư đã lập luận như thế nào mà
    nàng Kiều phải khen rằng: “Khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời”? Hãy tóm
    tắt các nội dung lí lẽ trong lập luận của Hoạn Thư để làm sáng tỏ lời khen của
    nàng Kiều.
    - Hoạn Thư giây phút đầu “Hồn lạc phách xiêu” nhưng sau đó “Liệu điều kêu
    ca”
    + “Rằng tôi … thường tình” ->Lí lẽ này xóa sự đối lập giữa Kiều và Hoạn Thư.
    Từ đối lập trở thành cùng cảnh ngộ “chồng chung…cho ai”. Hoạn Thư từ tội
    nhân trở thành nạn nhân của chế độ đa thê.
    + Kể công: Cho Kiều ở gác viết kinh. Khi Kiều trốn không đuổi theo.
    + Cuối cùng nhận tất
    cả lỗi về mình.

    NGHỊ LUẬN TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ
    I. Tìm hiểu yếu tố nghị luận trong văn bản tự sự
    1. Ví dụ.

    II. Luyện tập
    Bài tập 1
    - Lời văn trong đoạn trích
    là lời của ông giáo ( suy
    nghĩ nội tâm)
    - Thuyết phục người đọc,
    người nghe

    2. Ghi nhớ.

    Bài tập 2
    Lập luận của Hoạn Thư:
    - Tôi là đàn bà thì ghen tuông là
    thường tình.
    - Tôi cũng có đối xử tốt với cô.
    - Cảnh chồng chung thì không ai
    chịu được.
    - Tuy tôi cũng có lỗi, mong cô
    tha thứ.

    VẬN DỤNG
    - Nội dung của yếu tố nghị luận trong văn bản tự sự.
    Thực chất là các cuộc đối thoại với các nhận xét, phán đoán các
    lí lẽ, dẫn chứng nhằm thuyết phục người đọc, người nghe.
    - Tác dụng: làm cho câu chuyện thêm phần triết lí

    NỘI DUNG 2 :LUYỆN TẬP VIẾT ĐOẠN VĂN

    TỰ SỰ CÓ SỬ DỤNG YẾU TỐ NGHỊ LUẬN

    I. Thực hành tìm hiểu yếu tố nghị luận trong đoạn văn tự sự:
    *Ví dụ:
    §o¹n v¨n: Lçi lÇm vµ sù biÕt ¬n.

    Hai người bạn cùng đi qua sa mạc. Trong chuyến đi, giữa hai người có xảy ra
    một cuộc tranh luận, và một người nổi nóng không kiềm chế được mình đã nặng
    lời miệt thị người kia. Cảm thấy bị xúc phạm, anh không nói gì, chỉ viết lên cát:
    “Hôm nay người bạn tốt nhất của tôi đã làm khác đi những gì tôi nghĩ.”
    Họ đi tiếp, tìm thấy một ốc đảo và quyết định đi bơi. Người bị miệt thị lúc nãy
    bây giờ bị đuối sức và chìm dần xuống. Người bạn kia đã tìm cách cứu anh. Khi
    đã lên bờ, anh lấy miếng kim loại khắc lên đá: “ Hôm nay người bạn tốt nhất của
    tôi đã cứu sống tôi”.
    Người kia hỏi: “ Tại sao tôi xúc phạm anh, anh viết lên cát, còn bây giờ anh lại
    khắ lên đá”.
    Người kia trả lời: “Những điều viết lên cát sẽ mau chóng xoá nhoà theo thời gian,
    nhưng không ai có thể xoá được những điều tốt đẹp đẫ được ghi tạc trên đá và
    trong lòng người”.
    Vậy mỗi chúng ta hãy học cách viết những nỗi đau buồn, thù hận lên cát và khắc
    ghi những ân nghĩa lên đá.

    I. Thực hành tìm hiểu yếu tố nghị luận trong đoạn văn tự sự:
    *Ví dụ:
    Đoạn văn: “ Lỗi lầm và sự biết ơn”.
    +Phương thức biểu đạt : Phương thức tự sự.
    +Nội dung :Kể về hai người bạn cùng đi trên sa mạc.
    =>Ý nghĩa của câu chuyện :Nhắc nhở con người cách ứng xử trong cuộc sống.

    *Ví dụ: Đoạn văn: “ Lỗi lầm và sự biết ơn”.
    ?Yếu tố nghị luận được thể hiện rõ ở những câu văn nào? Hãy nêu vai trò
    của nó trong việc làm nổi bật nội dung đoạn văn?
    Hai người bạn cùng đi qua sa mạc. Trong chuyến đi, giữa hai người có xảy ra
    một cuộc tranh luận, và một người nổi nóng không kiềm chế được mình đã nặng
    lời miệt thị người kia. Cảm thấy bị xúc phạm, anh không nói gì, chỉ viết lên cát:
    “Hôm nay người bạn tốt nhất của tôi đã làm khác đi những gì tôi nghĩ.”
    Họ đi tiếp, tìm thấy một ốc đảo và quyết định đi bơi. Người bị miệt thị lúc nãy
    bây giờ bị đuối sức và chìm dần xuống. Người bạn kia đã tìm cách cứu anh. Khi
    đã lên bờ, anh lấy miếng kim loại khắc lên đá: “ Hôm nay người bạn tốt nhất của
    tôi đã cứu sống tôi”.
    Người kia hỏi: “ Tại sao tôi xúc phạm anh, anh viết lên cát, còn bây giờ anh lại
    khắ lên đá”.
    Người kia trả lời: “Những điều viết lên cát sẽ mau chóng xoá nhoà theo thời gian,
    nhưng không ai có thể xoá được những điều tốt đẹp đã được ghi tạc trên đá và
    trong lòng người”.
    Vậy mỗi chúng ta hãy học cách viết những nỗi đau buồn, thù hận lên cát và khắc
    ghi những ân nghĩa lên đá.

    +Yếu tố nghị luận chủ yếu được thể hiện trong câu trả lời của người bạn
    được cứu và câu kết của văn bản:
    - Những điều viết lên cát sẽ mau chóng xoá nhoà theo thời gian, nhưng
    không ai có thể xoá được những điều tốt đẹp đã được ghi tạc trên đá,
    trong lòng người.
    - Vậy mỗi chúng ta hãy học cách viết những nỗi đau buồn, thù hận lên
    cát và khắc ghi những ân nghĩa lên đá.
    - Yếu tố nghị luận làm cho câu chuyện thêm sâu sắc, giàu tính triết
    lí và có ý nghĩa giáo dục cao.
    =>Bài học về sự bao dung, lòng nhân ái, biết tha thứ và ghi nhớ ân
    nghĩa, ân tình.

    II. Thực hành viết đoạn văn có sử dụng yếu tố nghị luận.
    BT1: Viết đoạn văn kể lại
    buổi sinh hoạt lớp. Trong
    Gợi ý:
    buổi sinh hoạt đó, em đã phát
    biểu ý kiến để CM: Nam là - Buổi sinh hoạt lớp diễn ra thế
    nào? ( thời gian, địa điểm, ai là
    một người bạn tốt.
    người điều khiển, không khí của
    buổi sinh hoạt lớp ra sao?)
    - ND của buổi sinh hoạt là gì?
    - Em đã phát biểu vấn đề gì?
    - Tại sao lại phát biểu vấn đề đó?
    -Em đã thuyết phục cả lớp rằng
    Nam là ng bạn tốt ntn? ( lí lẽ, d/c,
    lời pt )
    Yêu cầu : Viết trong vòng 10 phút

    "Thứ 7 vừa qua, tiết cuối cùng lớp em lại sinh hoạt lớp như thường
    lệ. Mai Lan- lớp trưởng lên điều khiển sinh hoạt, không khí buổi sinh
    hoạt thật sôi nổi. Sau phần nhận xét các ưu nhược điểm của lớp là đến
    phần kiểm điểm của các cá nhân vi phạm nội quy trường lớp làm ảnh
    hưởng đến tập thể. Đến phần tự kiểm điểm của bạn Nam, 1 số bạn cho
    rằng: Nam là người bạn không tốt vì Nam đã mách cô về việc các bạn
    bỏ học đi xem đá bóng. Nam ít nói lại không biết thanh minh. Thấy
    vậy nên tôi đưa ra ý kiến: " Nếu ai cũng bỏ học tự do như các bạn thì
    đâu còn nội quy tổ chức lớp nữa. Nam có làm như vậy mới giúp các
    bạn nhận ra khuyết điểm của mình mà sửa chữa chứ. Vả lại Nam rất
    hay giúp đỡ các bạn trong lớp những lúc các bạn gặp khó khăn. Như
    vậy Nam đâu phải là người bạn không tốt như một số bạn đánh giá,
    phải không các bạn?"

    Bµ néi
    “............. Dân làng bảo bà hiền như đất. Nói cho đúng, bà hiền như chiếc bóng.
    Nếu ai lành chanh lành chói, bà rủ rỉ khuyên. Bà nói nhiều bằng ca dao tục ngữ.
    Những chị mồm năm miệng mười, sau khi bà khuyên chỉ còn mồm một, mồm hai.
    Người ta bảo: “ Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”. Bà như thế thì chúng tôi
    hư làm sao được...
    Bà tôi có học hành gì đâu, một chữ cắn đôi không biết. Bà lặng lẽ, cứ tưởng
    bà không biết gì. Bà thuộc như cháo hàng trăm, hàng nghìn câu ca. Bà nói những
    câu sao mà đúng thế. Bà bảo u tôi:
    Dạy con từ thuở còn thơ
    Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về.
    Người ta như cây. Uốn cây phải uốn từ non. Nếu để lớn lên mới uốn, nó gãy”.
    (Theo Duy Khán, ''Tuổi thơ im lặng '')
    =>Tác giả lồng ghép các yếu tố nghị luận như sau :
    -Từ một lời dạy : “ Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”, tác giả bàn về tấm gương và hiệu
    quả giaó dục của bà trong gia đình: “Bà như thế thì chúng tôi hư làm sao được”...
    -Từ cuộc đời và lời răn dạy của bà, tác giả bàn về một nguyên tắc g/dục: “ Người ta
    như cây. Uốn cây phải uốn từ non. Nếu để lớn lên mới uốn, nó gãy”
    ->Đây là yếu tố nghị luận khái quát hoá.
    Các yếu tố nghị luận trong đoạn văn trên là những “suy ngẫm” của tác giả về
    nguyên tắc giáo dục và đức hi sinh của người làm công tác giáo dục.

    BT2: Viết đoạn văn kể về những việc làm hoặc những lời dạy bảo
    giản dị mà sâu sắc của người bà kính yêu đã làm cho em cảm
    động(có sử dụng yếu tố nghị luận)
    - Xác định người em kể là ai?
    - Người đó đã để lại một việc làm, lời nói hay một suy nghĩ như
    thế nào? Diễn ra trong hoàn cảnh nào?
    - Nội dung cụ thể là gì? Nội dung đó giản dị mà sâu sắc cảm
    động như thế nào?
    - Những suy nghĩ về bài học rút ra từ câu chuyện trên.

    * Đoạn văn tham khảo.
    “Bố mẹ tôi đều làm ruộng nên ngày ấy nhà tôi nghèo lắm. Bấy giờ
    bà nội tôi tuy tuổi đã cao, nhưng bà vẫn thường đỡ đần bố mẹ tôi trong
    công việc bếp núc, nội trợ. Bà tôi thường bảo: “ Đối với con người, hạt
    gạo là quý giá nhất!”. Mỗi lần đong gạo từ thúng ra cái giá, bà tôi thường
    làm rất thong thả, cẩn thận, không bao giờ để vương vãi một hạt gạo nào
    ra ngoài. Một lần bà tôi bị mệt nên tôi phải thay bà nấu cơm. Khi tôi bê
    cái giá gạo ra cửa, chẳng may bị trượt chân nhưng vẫn giữ lại được, chỉ
    vài ba hạt gạo văng ra ngoài. Tôi thản nhiên đi xuống bếp nấu cơm.
    Xong, tôi chạy lên định bụng sẽ khoe với bà cái sự giỏi giang của mình
    thì … tôi bỗng đứng sững. Bà tôi đang chống gậy dò đi từng bước để
    nhặt mấy hạt gạo vương vãi trên nền nhà. Tôi chạy lại bỡ bà, nói: “ Bà ơi
    có mấy hạt gạo thì bõ bèn gì mà bà phải khổ sở thế?”. Bà tôi thều thào: “
    Cháu ơi thóc gạo là Đức Phật đấy … không có nó thì cũng chẳng có ai
    hương khói nơi cửa Phật đâu …”. Lúc ấy, tôi chưa hiểu câu nói của bà
    lắm, nhưng bây giờ thì tôi đã hiểu. Suốt một đời tần tảo lam lũ, bà tôi có
    gì ngoài những hạt gạo do chính bà làm ra bằng một nắng, hai sương,
    bằng lưng còng, chân chậm …”

    VẬN DỤNG
    - Xem lại bài học, hoàn chỉnh bài tập vào vở.

    - Phân tích vai trò của các yếu tố miêu tả và nghị
    luận trong đoạn văn tự sự cụ thể.
    - Chuẩn bị bài sau “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy
    Cận.
     
    Gửi ý kiến

    KÍNH CHÀO QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ GHÉ TƯỜNG WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS NGÔ MÂY!

    Những quyển sách làm say mê ta đến tận tủy, chúng nói chuyện với ta, cho ta những lời khuyên và liên kết với ta bởi một tình thân thật sống động và nhịp nhàng.