Ý nghĩa của sách trong cuộc sống
Lão Tử đạo đức kinh - Nguyễn Hiến Lê

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Thẩm
Ngày gửi: 10h:00' 24-02-2024
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 1
Người gửi: Lê Thị Thẩm
Ngày gửi: 10h:00' 24-02-2024
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
LÃO TỬ – ĐẠO ĐỨC KINH
Chú dịch và giới thiệu:
Nguyễn Hiến Lê
Nhà xuất bản: Văn hoá Thông Tin
Năm xuất bản: 2006
(có sửa chữa và bổ sung)
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua sách.
Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả, người dịch và
Nhà Xuất Bản
MỤC LỤC:
Vài lời thưa trước
PHẦN I. ĐỜI SỐNG VÀ TÁC PHẨM
§I. ĐỜI SỐNG
1. Sự tích Lão tử
2. Quê quán
3. Tên họ
4. Chức tước
5. Lão tử với Khổng tử có gặp nhau không? Khổng tử có hỏi Lão tử về lễ không?
6. Lão tử có phải là Lão Lai tử không?
7. Lão tử có phải là thái sử Đam 儋 không?
8. Tuổi thọ
§II. TÁC PHẨM
A. XUẤT HIỆN THỜI NÀO?
1. Về nội dung
2. Về hình thức
3. Dư Bồi Lâm còn đưa ra lí do này nữa
B. DO AI VIẾT?
C. BẢN LÃO TỬ LƯU HÀNH NGÀY NAY
D. CÁC BẢN CHÚ THÍCH
PHẦN II. HỌC THUYẾT
§I. ĐẠO VÀ ĐỨC
Lão tử là người đầu tiên luận về vũ trụ
A. ĐẠO: BẢN NGUYÊN CỦA VŨ TRỤ
Bản thể của đạo
Dụng của đạo
B. ĐỨC: SỰ TRƯỞNG THÀNH CỦA VẠN VẬT
Một học thuyết vô thần
§II. TÍNH CÁCH VÀ QUI LUẬT CỦA ĐẠO
a) Phác
b) Tự nhiên
c) Luật Phản phục
Qui kết I: Sự luân phiên và sự tương đối của các luật tương phản
Qui kết II: Tổn hữu dư, bổ bất túc
d) Vô – triết lí Vô
§III. ĐẠO Ở ĐỜI
Xã hội theo Khổng
Lật ngược nền luân lí của Khổng
Lật ngược chế độ tôn ti của Khổng
Xử kỉ
Tiếp vật
Dưỡng sinh – Người đắc đạo
§IV. ĐẠO TRỊ NƯỚC
Hữu vi thì hỏng – Trị nước phải như nấu cá nhỏ
Chính sách vô vi
Ngăn ngừa trước bằng “phác”
Tư cách ông vua
Quốc gia lí tưởng
KẾT
PHẦN III. DỊCH ĐẠO ĐỨC KINH
THIÊN THƯỢNG
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30,
31, 32, 33, 34, 35, 36, 37
THIÊN HẠ
38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64,
65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81
Vài lời thưa trước
Về cuốn Lão tử – Đạo Đức kinh (LT-ĐĐK), trong bộ Hồi kí (Nxb Văn học –
1993), cụ Nguyễn Hiến Lê cho biết:
“Chúng ta đã có vài ba bản dịch Đạo đức kinh rồi.
Tôi góp thêm một bản dịch nữa, với một phần giới thiệu khoảng 100 trang về
học thuyết của Lão tử.
Theo các học giả Trung Hoa gần đây, cho rằng Lão sinh sau Khổng, Mặc,
trước Mạnh; và bộ Đạo đức kinh xuất hiện sau Luận ngữ, vào thế kỉ thứ IV
hay thứ III, trước Tây lịch, do môn sinh của Lão tử chép lại lời thầy; tuy có
khoảng mười chương của người đời sau thêm vào nhưng tư tưởng vẫn là
nhất trí.
Lão tử là triết gia đầu tiên của Trung Quốc luận về vũ trụ, có một quan niệm
tiến bộ, vô thần về bản nguyên của vũ trụ mà ông gọi là Đạo. Ông lại xét
tính cách và qui luật của Đạo, dùng những qui luật đó làm cơ sở cho đạo ở
đời và đạo trị nước, tức cho một nhân sinh quan và một chính trị quan mới
mẻ. Do đó mà học thuyết của ông hoàn chỉnh nhất, có hệ thống nhất thời
Tiên Tần.
Ông tặng cho hậu thế những tư tưởng bình đẳng, tự do, trọng hoà bình,
không tranh giành nhau mà khoan dung với nhau (dĩ đức báo oán), trở về tự
nhiên, sống thanh tịnh. Trở về tự nhiên theo ông không phải là trở về thời ăn
lông ở lỗ, sống bằng săn bắn và hái trái cây, mà trở về buổi đầu thời đại
nông nghiệp, thời bộ lạc, có tù trưởng nhưng tù trưởng cũng sống như mọi
người khác, không can thiệp vào đời sống của dân. Nước thì nhỏ mà dân ít;
các nước láng giềng trông thấy nhau, nghe được tiếng cho sủa, tiếng gà gáy
của nhau mà dân các nước không qua lại với nhau, có thuyền có xe mà
không ngồi, dùng lối thắc dây thời thượng cổ mà không có chữ viết (chương
80). Thời đó có thể là thời Nghiêu Thuấn mà tất cả các triết gia thời Tiên
Tần đều cho là hoàng kim thời đại. Dĩ nhiên nhân loại không lùi lại như vậy
được và đọc Lão tử chúng ta chỉ nên nhớ rằng ông muốn cứu cái tệ đương
thời là đời sống đã phúc tạp quá, từ kinh tế tới lễ nghi, chính trị, tổ chức xã
hội; con người đã gian tham, xảo trá nhiều, do đó mà loạn lạc, nghèo khổ.
Học thuyết của ông bổ túc cho học thuyết của Khổng, nén bớt tinh thần hăng
hái hữu vi, quá thực tiễn của Khổng. Hiện nay người phương Tây chán nản
nền văn minh cơ giới, sản xuất để tiêu thụ rồi tiêu thụ để sản xuất, muốn trở
lại đời sống thiên nhiên, giản dị, nên Đạo đức kinh lại được nhiều người
đọc[1]. Nhưng các chính trị gia không ai theo bài học của ông cả; tôi nghĩ
những câu như: “Càng ban nhiều lệnh cấm thì dân càng nghèo” (Chương
57), “Can thiệp vào việc dân nhiều quá thì dân sẽ trá nguỵ, chống đối”
(Chương 60) rất đáng cho họ suy ngẫm”.
Trong Lão tử và Đạo Đức kinh nhìn từ văn minh Lạc Việt đăng trên Diễn
đàn Lí học Đông phương, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh cho rằng cuốn LTĐĐK của Nguyễn Hiến Lê (Nxb Văn Hóa Thông Tin – 1994) “là cuốn sách
tập hợp khá nhiều tư liệu, phân tích sâu sắc và được biên dịch một cách
khách quan…”[2]. Một người khác cũng đánh giá cao bản dịch của cụ
Nguyễn Hiến Lê. Trong Đạo Đức kinh dễ hiểu, Phan Ngọc bảo: “Trong việc
dịch này tôi cảm ơn các bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Hiến Lê, Thu
Giang, Giáp Văn Cường mà tôi đều tham khảo với tinh thần “Hư tâm cầu
học”. Đó đều là những bản dịch tốt, biểu hiện một trình độ Hán học sâu và
một công phu khảo cứu hết sức nghiêm túc. So với nhiều bản dịch tiếng
Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Nga thì nó dễ hiểu hơn” [3].
LT-ĐĐK gồm có 3 phần:
Phần I: Đời sống và tác phẩm
Phần II: Học thuyết
Chương 1: Đạo và đức
Chương 2: Tính cách và qui luật của đạo
Chương 3: Đạo ở đời
Chương 4: Đạo trị nước
Phần III: Dịch đạo đức kinh
Thiên thượng: từ chương 1 đến chương 37
Thiên hạ: từ chương 38 đến chương 81
Trong phần III, mỗi chương gồm các phần nhỏ mà tôi tạm gọi là (vì trong
sách không ghi):
- Nguyên văn chữ Hán
- Phiên âm
- Dịch nghĩa
- Lời giảng (từ này của cụ Nguyễn Hiến Lê, xem tiết Tư cách ông vua,
chương IV, phần II)
Nhưng cũng có chương, như chương 71, cụ lại đặt phần dịch nghĩa ở cuối;
cũng có chương, như chương 12, chương 40… không có lời giảng. Tuy phần
dịch nghĩa được in nghiêng, nhưng trong eBook này, tôi cũng ghi thêm dấu
hoa thị (* – [trong eBook mới, tôi thay bằng đường vạch ngang. QuocSan])
để phân cách các phần nhỏ đó ra cho tiện phân biệt.
Trước đây tôi đã chép lại 46 chương của phần III đăng trên Website Hoa Sơn
Trang. Cuối tháng 12 năm 2009, tôi đã mua được cuốn LT-ĐĐK, nên tôi
chép trọn phần III: Dịch Đạo Đức kinh trước, sau đó mới chép phần I và
phần II. Ngoài lí do sẵn có 46 chương trong phần dịch, còn một lí do nữa là
sau khi chép xong phần dịch rồi, đến khi chép hai phần kia, gặp những câu
trích dẫn từ phần dịch, ta chỉ cần copy rồi dán vào là xong, rất tiện lợi. Một lí
do nữa, đó là vì tôi nghĩ rằng nếu chúng ta đọc phần dịch trước rồi sau đó
mới đọc các phần kia thì sẽ dễ hiểu hơn.
Bản Hoa Sơn Trang tuy chỉ mới có 46 chương, mà phần Lời giảng (Hoa Sơn
gọi là Lời bàn) trong nhiều chương bị lược bỏ vài chữ, vài câu hoặc vài
đoạn; phần Nguyên văn và phần Dịch nghĩa cũng không giống hẳn trong
sách (trong sách, nguyên văn chữ Hán và phiên âm có nhiều chỗ cũng không
khớp nhau), nhưng nhờ có bản Hoa Sơn Trang mà việc chép lại 46 chương
đầu nhanh chóng và dễ dàng hơn so với 35 chương còn lại rất nhiều.
Xin chân thành cảm ơn Hoa Sơn Trang và xin trân trọng giới thiệu cùng các
bạn.
Goldfish
Tháng 01 năm 2010
Sửa chữa và bổ sung đầu tháng 12 năm 2011
PHẦN I: ĐỜI SỐNG VÀ TÁC PHẨM
CHƯƠNG I: ĐỜI SỐNG
Lão tử là một hiện tượng khá lạ trong lịch sử triết học của nhân loại. Ông là
một triết gia lớn, ảnh hưởng tới cả Đông Á ngang với Khổng tử, thời nào
cũng được dân tộc Trung Hoa tôn trọng[4] không như Mặc tử mà tên tuổi bị
chìm luôn trong hai ngàn năm; có phần còn hơn Khổng tử nữa vì chưa hề bị
mạt sát tàn nhẫn như họ Khổng trong bảy tám chục năm nay; mà từ năm 165
(đời Hậu Hán) lại còn được Đạo gia tôn làm Thái Thượng Lão quân, một
trong ba vị thần tối cao của họ; đền thờ ông, Đại thanh cung[5], tương truyền
dựng ở tại nơi ông sinh, hiện nay vẫn còn ở tỉnh Hà Nam, hương khói lúc
này chắc đã lạnh, nhưng pho tượng cao bốn mét của ông thì may ra vẫn còn.
Vậy mà chúng ta không biết gì chắc chắn về đời ông, về cả tác phẩm bất hủ
mang tên ông nữa, mặc dầu Trung Hoa là dân tộc sớm biết trọng sử nhất thế
giới ngay từ đời Chu, ba ngàn năm trước, họ đã có các sử quan ghi chép
những biến cố quan trọng từng năm cho mỗi triều đại.
Từ thời Tư Mã Thiên, bao nhiêu người tra cứu đủ các sách cổ để tìm hiểu
Lão tử tên thật là gì, sống ở thời nào, làm gì, tiếp xúc với những ai, nhưng
chỉ đưa ra được những giả thuyết, và càng bàn lại càng thêm rối vì ý kiến
mâu thuẫn nhau, tới nỗi có người – một học giả Nhật Bản tên là Tân Điền Tả
Hữu Cát – phủ nhận hết thảy, bảo Lão tử là một con người huyền thoại,
không hề có!
Ngay đến tác phẩm Lão tử (Đạo Đức kinh là tên đời Hán đặt cho) rất ngắn,
mà mỗi nhà chấm câu một khác[6], tới nay đã có trên hai trăm bản hiệu đính,
giải thích, làm tốn không biết bao nhiêu giấy mực. Lại thêm tác phẩm đó do
ai viết, xuất hiện thời nào, cũng là vấn đề nan giải nữa. Riêng La Căn Trạch,
trong cuốn Chư tử khảo sách (Nhân dân xuất bản xã – Bắc Kinh – 1958)
cũng đã viết ba bài, tổng cộng trên 30.000 chữ để góp ý kiến về con người
Lão tử và tác phẩm Lão tử và đã làm một bảng kiệt kê kiến giải của trên ba
chục học giả trước ông và đồng thời với ông. Mà rốt cuộc, các nghi vấn của
người trước nêu ra vẫn còn là nghi vấn, có thể sẽ vĩnh viễn là nghi vấn,
không làm sao giải nổi. Một triết gia với một tác phẩm chỉ khoảng năm ngàn
chữ – mươi, mười lăm trang sách – mà làm cho hậu thế thắc mắc, hao tốn
tâm trí như vậy, có thế nói là không tiền khoáng hậu trong lịch sử.
1. Sự tích Lão tử
Đời sống của Lão tử được chép lần đầu tiên trong bộ Sử kí của Tư Mã Thiên
phần Liệt truyện, thiên 63: Lão tử, Trang tử, Thân Bất Hại, Hàn Phi. Toàn
văn như sau:
1. Lão Tử là người làng Khúc Nhân, hương[7] Lệ, huyện Hỗ, nước Sở; họ Lí,
tên Nhĩ, tự là Đam (聃)[8], làm quan sử, giữ kho chứa sách của nhà Chu.
Khi Khổng tử qua Chu, lại hỏi Lão tử về lễ, Lão tử đáp:
“Những người ông nói đó, thịt xương đều đã nát thịt cả rồi, chỉ còn lại lời
của họ thôi. Vả lại, người quân tử nếu gặp thời thì ngồi xe ngựa, không gặp
thời thì đội nón lá mà đi chân. Tôi nghe nói người buôn giỏi thì giấu kĩ vật
quí, coi ngoài như không có gì; người quân tử đức cao thì dong mạo như
ngu độn. Ông nên bỏ cái khí kiêu căng, cái lòng đa dục, cái vẻ hăm hở cùng
cái chí quá hăng của ông đi, những cái đó không có ích gì cho ông đâu. Tôi
chỉ khuyên ông có bấy nhiêu thôi”.
Khổng tử về, bảo môn sinh: “Loài chim, ta biết nó bay được; loài cá ta biết
nó lội được; loài thú ta biết nó chạy được. Chạy thì ta dùng lưới để bẫy, lội
thì ta dùng câu để bắt, bay thì ta dùng tên để bắn. Đến loài rồng cưỡi gió
mây mà lên trời thì ta không sao biết được. Hôm nay ta gặp ông Lão tử, ông
ta là con rồng chăng?”.
Lão tử trau giồi đạo đức; học thuyết của ông cốt ở chỗ giấu mình, ẩn danh.
Ông ở nước Chu đã lâu, thấy nhà Chu suy bèn bỏ đi. Đến cửa quan, viên coi
quan là Doãn Hỉ bảo: “Ông sắp đi ẩn, rán vì tôi mà viết sách để lại”. Thế là
Lão tử viết một cuốn gồm hai thiên thượng và hạ, nói về ý nghĩa của “Đạo”
và “Đức”, được trên năm ngàn chữ. Viết xong rồi đi, không ai biết chết ra
sao, ở đâu.
Có người bảo: Lão Lai tử cùng là người nước Sở, viết mười lăm thiên sách
nói về công dụng của Đạo gia cũng đồng thời với Khổng tử.
Đại khái Lão tử sống trên 160 tuổi, có người bảo trên 200 tuổi, nhờ ông tu
đạo để kéo dài tuổi thọ.
Sau khi Khổng tử mất 129 năm, sử chép rằng viên Thái tử nhà Chu tên là
Đam 儋, yết kiến Tần Hiến công[9], tâu: “Mới đầu Tần hợp với Chu, hợp
được 500 năm rồi thì tách ra, tách được 70 năm thì có một bá vương xuất
hiện”.
Có người bảo Đam đó tức là Lão tử, có người lại bảo không phải. Không
biết sự thực đó ra sao.
Lão tử là một bậc quân tử ở ẩn. Con ông tên là Tôn, làm tướng quốc nước
Nguỵ, được phong đất ở Đoạn Can[10]. Con của Tôn là Chú, con của Chú
là Cung, chút của Cung là Giả (hay Giá). Giả làm quan dưới triều Hiếu Văn
đế nhà Hán. Con của Giả là Giải làm Thái phó của Giao Tây vương tên là
Ngang, do đó mà cư trú ở Tề.
Người đời hễ theo thuyết của Lão thì chê bai Nho học, mà theo Nho học thì
cũng chê bai Lão tử. “Đạo khác nhau thì khó cùng bàn với nhau được”, là
nghĩa vậy chăng? Lí Nhĩ chủ trương chỉ cần “vô vi” mà dân sẽ tự cải hoá,
“thanh tĩnh” mà dân sẽ tự nhiên thuần chính[11].
Cũng trong bộ Sử kí còn một đoạn nữa chép lời Lão tử khuyên Khổng tử:
“Tôi nghe nói người giàu sang tiễn nhau bằng tiền bạc, người nhân tiễn
nhau bằng lời nói. Tôi không phải là người giàu sang, mạn phép tự coi là
người nhân mà tiễn ông bằng lời này: kẻ thông minh và sâu sắc thì khó sống
vì ham phê bình người; kẻ giỏi biện luận, biết nhiều thì nguy tới thân vì hay
nêu cái xấu của người. Kẻ làm con và kẻ làm tôi đều không có cách gì để giữ
mình cả”. (Phần Thế gia – Thiên 47 – Khổng tử).
Để viết hai đoạn trên, Tư Mã Thiên đã dùng nhiều sử liệu về Lão tử thời
Tiên Tần để lại; đặc biệt là các sử liệu trong bộ Trang tử (các thiên Thiên
đạo, Ngoại vật, Thiên vận…), các bộ sử cổ hoặc gia phả họ Lão, có thể cả
trong cuốn Quan Doãn tử nữa (coi La Căn Trạch – sách đã dẫn – tr.255).
Ngoài ra, các bộ Tuân tử, Hàn Phi tử, Chiến Quốc sách, Lã Thị Xuân Thu
cũng nhắc đến Lão tử, nhưng chỉ phê bình học thuyết chứ không cho biết gì
thêm về đời sống của ông trừ điểm này: Lão tử là thầy học của Khổng tử (Lã
Thị Xuân Thu, thiên Đương nhiễm) mà không ai có thể tin được.
Phải đợi tới khoảng hai thế kỉ sau khi bộ Sử kí của Tư Mã Thiên ra đời,
chúng ta mới thấy được một tài liệu nữa trong bộ Tiểu Đái kí[12], thiên Tăng
tử vấn, thuật lại việc Khổng tử hỏi Lão tử về lễ. Tất cả gồm bốn cố sự, đều
do Khổng tử kể lại lời của Lão tử về việc giữ bài vị của tổ tiên, về việc chôn
cất, về việc để tang (cố sự 1, 3, 4). Duy có cố sự 2 đáng cho ta để ý: Lần đó
Khổng tử theo Lão tử làm trợ táng ở Hạng Đảng, giữa đường gặp nhật thực.
Lão tử bảo: “Khâu! Ngừng lại, đặt quan tài ở lề đường bên phải, ngưng tiếng
khóc để đợi sự biến đổi”. Khi hết nhật thực rồi, đám táng mới tiếp tục đi.
Lão tử bảo: “Như vậy là lễ” (…).
Đại khái những tài liệu chúng ta biết được về Lão tử chỉ có bấy nhiêu.
Tư Mã Thiên đã tốn công tra cứu trong tất cả các sách cổ, thận trọng ghi hết
những ý kiến khác nhau của nhiều người và gợi cho người sau nhiều điểm
nghi vấn mà chúng tôi sẽ lần lượt xét cùng với ý kiến của một số học giả gần
đây.
2. Quê quán
Các bản Sử kí lưu hành hiện nay đều chép là Lão tử gốc ở làng Khúc Lí[13],
hương Lệ 厲[14], huyện Hỗ 苦[15] nước Sở. Nhưng có nhà như Lục Đức
Minh, Khổng Dĩnh Đạt… lại bảo Sử kí chép là nước Trần, huyện Tương 相,
hương Lại 賴 hoặc 瀨[16]. Vậy có nhiều bản Sử kí do người sau đã tự ý sửa
lại. Không sao biết được bản nào là gốc; chỉ biết Tư Mã Thiên không đưa ra
một giả thuyết nào khác, không coi quê quán của Lão tử là một nghi vấn, mà
đa số học giả từ trước tới nay đều theo thuyết: nước Sở, huyện Hỗ, hương
Lệ.
Thực ra về địa điểm, các thuyết đó đều giống nhau, chỉ có tên gọi là khác:
- 厲 賴 瀨[17] thời xưa đọc như nhau, thay cho nhau.
- Huyện 相 cũng chính là huyện 苦, thời Chiến Quốc gọi là Hỗ, thời Xuân
Thu gọi là Tương.
- Và Trần cũng là Sở: thời Xuân Thu là nước Trần, năm 478[18], tức sau khi
Khổng tử mất được một năm, Trần bị Sở diệt.
Về địa điểm mỗi cách gọi có một ý nghĩa quan trọng; gọi là Sở là Hỗ, có thể
ngầm nhận rằng Lão tử là người thời Chiến Quốc, mà gọi là Trần, Tương thì
có thể ngầm nhận rằng ông là người thời Xuân Thu. Nhưng chúng tôi cho
rằng Tư Mã Thiên có lẽ không dùng chữ chính xác tới mức đó; vì một mặt
ông khẳng định Lão tử là người nước Sở (cho nên ở dưới ông mới viết: “Lão
Lai tử cũng (亦)[19] là người Sở”), huyện Hỗ, tức dùng những tên thời
Chiến Quốc; một mặt ông lại bảo Lão tử gặp Khổng tử ở thời Xuân Thu. Có
thể đó chỉ là do ông sơ ý chứ chúng ta chưa nên vội cho ông là mâu thuẫn
với chính ông.
3. Tên họ
Tư Mã Thiên bảo Lão tử họ Lí, tên Nhĩ, tự là Đam; ông có vẻ tin như vậy
nhưng cũng đưa thêm hai thuyết nữa mà ông nhận rằng không biết đúng hai
sai: một thuyết Lão tử là Lão Lai tử, cũng người nước Sở, cũng viết sách,
đồng thời với Khổng tử; một thuyết, Lão tử là viên thái sử nhà Chu cũng tên
là Đam, nhưng chữ Đam này 儋, yết kiến Tần Hiến Công vào khoảng năm
350 thời Chiến Quốc.
Họ, tên, và tên tự đó rất thông dụng từ xưa tới nay. Tên là Nhĩ (tai), tự là
Đam 聃 (tai dài) thì rất hợp. Theo truyền thuyết Lão tử lại rất thọ, cho nên
người ta còn gọi Lão Đam (ông già tai dài), và vì tôn trọng mà gọi là Lão tử.
Người đầu tiên chúng tôi được biết đã bác thuyết “họ Lí” là Dư Bồi Lâm
(sách đã dẫn). Dư bảo:
“Tra khắp các sách cổ thì thời Xuân Thu không có họ Lí, mãi đến thời Chiến
Quốc mới có Lí Khối, Lí Khắc, Lí Mục v.v…, như vậy đủ biết họ Lí xuất
hiện rất trễ. Lão tử phải họ Lão. Sách Tả truyện, năm 15 đời Thành công có
Lão Tá, năm 14 đời Chiêu công có Lão Kì, Luận ngữ có Lão Bành, Sử kí có
Lão Lai. Không thể tra khảo để biết Lão tử có thuộc dòng họ những người
đó không, nhưng không còn nghi ngờ gì nữa, thời cổ đã có họ Lão rồi. Vả lại
các triết gia thời Tiên Tần đều gọi bằng họ, như Khổng tử, Mặc tử, Trang tử,
Tuân tử, Hàn tử, không nhà nào không như vậy. Lão tử không ra ngoài lệ đó.
Gọi là Lão tử, chứ không Lí tử, là Lão Đam chứ không Lí Đam, như vậy rõ
ràng là họ Lão chứ không phải họ Lí. Họ Lão, mà gọi lầm ra họ Lí, do lẽ hai
chữ Lão, Lí đọc hơi giống nhau, cũng như Tuân 荀 Khanh bị gọi nhầm là
Tôn 孫 Khanh vậy”[20].
Dư Bồi Lâm có lí trừ điểm cuối cùng: Lí khó lầm với Lão được. Thuyết đó
ông mới đưa ra năm 1973 ở Đài Loan, không biết đã có ai phê bình chưa.
4. Chức tước
Lão tử làm quan sử, giữ kho sách của nhà Chu, tức như chức Giám đốc thư
viện Quốc gia ngày nay. Điểm này, Tư Mã Thiên chép theo thiên Thiên đạo
trong Trang tử[21]. Đời sau không thấy ai nghi ngờ mà cũng không ai tìm ra
được dưới thời vua nào của nhà Chu (sử Chu không chép).
5. Lão tử với Khổng tử có gặp nhau không? Khổng tử có hỏi Lão tử về lễ
không?
Vấn đề này gây nhiều cuộc tranh luận nhất, tới nay vẫn chưa giải quyết
xong.
Chúng ta hãy để riêng ra chủ trương của Diệp Thích, Tống Dật Danh, Đàm
Giới Phủ, Tiền Mục cho rằng có hai Lão tử: một Lão tử giảng lễ cho Khổng
tử và một Lão tử, tác giả cuốn Lão tử. Chủ trương đó cơ hồ không ai chấp
nhận.
Còn lại các học giả khác thì xét chung, trước đời Thanh hầu hết ai cũng tin
rằng Khổng tử có yết kiến Lão tử để hỏi về lễ; từ đời Thanh mới có và nhà
ngờ rằng không, gần đây số người chủ trương “không” đông hơn số người
chủ trương “có”.
Trong phái chủ trương “có”, phải kể Hồ Thích, Cao Hanh, Quách Mạc
Nhược; trong phái chủ trương “không”, có Tất Nguyên, Uông Trung, Lương
Khải Siêu, Cố Hiệt Cương, La Căn Trạch v.v…
Chúng tôi nhắc lại, những đoạn ghi cuộc “vấn lễ” (hỏi về lễ) đó chép trong
Sử kí và Tiểu Đái kí, mà chúng tôi dẫn ở trên. Ngoài ra còn những thiên
Thiên địa, Thiên đạo, Thiên vận, Điền Tử Phương, Trí Bắc du trong Trang
tử và thiên Đương nhiễm trong Lã thị Xuân Thu, cũng nhắc qua nhưng
không cho biết thêm gì cả.
Đại khái phái chủ trương “có” đưa ra những lí lẽ này:
1. Sách thời Chiến Quốc có tới bảy tám chỗ nói về việc vấn lễ đó, không
thể là bịa hết được.
2. Tư Mã Thiên là một Nho gia rất sùng bái Khổng tử, lại là một sử gia
rất có lương tâm, nếu không có tài liệu chắc chắn thì sao lại chép
truyện vấn lễ đó, nó làm giảm giá trị của Khổng tử đi; hơn nữa ở bài
Tựa trong thiên Trọng Ni đệ tử (phần Liệt truyện), ông còn kể tên mấy
người mà Khổng tử rất trọng: Lão tử ở Chu, Cừ Bá Ngọc ở Vệ, Án
Bình Trọng ở Tề, Lão Lai tử ở Sở, Tử Sản ở Trịnh, Mạnh Công Xước
ở Lỗ. Năm người sau đều là nhân vật có thật, sử chép rõ ràng, không
có lí gì duy Lão tử lại không có thật, vậy thì việc vấn lễ cũng có nữa.
3. Lễ kí là một bộ kinh của Nho gia, những người biên tập bộ đó (Lưu
Hướng, Đái Đức, Đái Thánh) tất phải là những Nho gia thận trọng,
nhất là trong thiên Tăng tử vấn có chép rằng Lão tử và Khổng tử đi trợ
táng ở Hạng Đảng, giữa đường gặp nhật thực. Việc đó tất có thực, chứ
người ta bịa ra truyện nhật thực làm chi.
Dư Bồi Lâm (sách đã dẫn) cho rằng Khổng tử gặp Lão tử tới hai lần: lần thứ
nhất năm ông 34 tuổi, lần sau hồi ông 51 tuổi ở đất Bái (theo Trang tử[22]).
Những cuộc đàm thoại chép trong Sử kí và việc trợ táng chép trong Tăng tử
vấn đều xảy ra trong lần thứ nhất; còn lần thứ nhì thì chưa tìm thêm được tài
liệu gì cả.
Phái chủ trương “không” bác những lẽ đó:
1. Sách thời Chiến Quốc có nhiều chỗ nói về việc vấn lễ đó thực, nhưng
đều ở trong Ngoại thiên, Tạp thiên bộ Trang tử và Tăng tử vấn bộ Tiểu
Đái kí, những thiên đó trong Trang tử đều không đáng tin, có nhiều
phần chắc rằng tác giả là Đạo gia ở cuối thời Chiến Quốc chịu ảnh
hưởng của Nho gia chứ không phải của Trang tử[23] và của những
Nho gia chân chính. Câu Khổng tử bảo Lão tử là con rồng rút trong
thiên Thiên vận, sách Trang tử, truyện đó chỉ đáng coi là một ngụ
ngôn.
2. Còn chuyện đi trợ táng ở Hạng Đảng (trong Tăng tử vấn) gặp nhật
thực, có điểm đáng nghi là Hạng Đảng ở đâu, không ai biết; có người
ngờ là ở Lỗ, có người ngờ là ở Tống, chứ không phải ở Chu.
3. Vả lại ngay việc Khổng tử qua Chu nghiên cứu về Lễ cũng chưa chắc
đã đúng. Khổng tử thế gia bảo Nam Cung Kính Thúc xin Lỗ Chiêu
công cấp phương tiện cho Khổng tử sang Lạc ấp ở Chu khảo về lễ.
Năm đó là năm Chiêu công 24, tức năm -518, Khổng tử 34 tuổi. Vua
Lỗ cấp cho một cổ xe với hai ngựa và một đứa nhỏ rồi Nam Cung
Kính Thúc cùng đi với Khổng tử. Nhưng theo La Căn Trạch (sách đã
dẫn – tr.254), năm đó Nam Cung Kính Thúc tuổi mới 14, làm sao
được vào yết kiến vua để xin việc đó, làm sao vua Lỗ cho qua Chu
được.
4. Dư Bồi Lâm còn nói Khổng tử qua Chu lần thứ nhì hồi ông 51 tuổi.
Điều này càng khó tin hơn nữa. Năm này (Định công 9) Khổng tử
thăng chức Tư không, bận việc triều đình, thì giờ đâu mà qua Chu và
qua Chu để làm gì?
5. Nếu Lão tử hồi đó đã nổi danh, được Khổng tử kính trọng như vậy thì
tại sao bộ Luận ngữ (bộ sách đáng tin nhất về đời Khổng tử) không
thấy chép, mà tất cả các sách đầu đời Chiến Quốc như Mặc tử, Mạnh
tử nữa cũng không thấy chép?
6. Trong Luận ngữ chỉ có mỗi một đoạn ở đầu thiên Thuật nhi nói đến
một người họ Lão, tức Lão Bành. Đoạn đó như sau:
7. Tử viết: “Thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ, thiết tỉ ư ngã Lão Bành”.
(Khổng tử nói: Ta thuật lại đạo của thánh hiền chứ không sáng tác gì
mới; ta tin và hâm mộ đạo cổ nhân. Ta trộm ví ta với ông Lão Bành).
8. Không ai biết chắc ông Lão Bành đó là ai. Có người bảo là Bành Tổ,
mà Bành Tổ sống bảy tám trăm tuổi, là bề tôi của vua Nghiêu; có
người bảo là một đại phu đời Thương; có người bảo Lão Bành là Lão
Đam, tức Lão tử, nhưng Bành 彭 mà sao thành Đam 耼 được? Lại có
thuyết Lão, Bành là hai người: Lão Đam và Bành Tổ. Thuyết này càng
vô lí hơn nữa.
9. Vả lại Lão tử cực lực phản đối lễ. Chương 38 sách Lão tử chép: “Thất
đạo nhi hậu đức, thất đức nhi hậu nhân, thất nhân nhi hậu nghĩa, thất
nghĩa nhi hậu lễ. Phù lễ giả, trung tín chi bạc, nhi loạn chi thủ”. (Đạo
mất rồi sau mới có đức, đức mất rồi sau mới có nhân, nhân mất rồi
sau mới có nghĩa, nghĩa mất rồi sau mới có lễ. Lễ là biểu hiện sự suy
vi của trung tín (trung hậu, thành tín), là đầu mối của sự hỗn loạn).
10. Một người mạt sát lễ là mầm loạn trong xã hội mà lại ủng hộ cái lễ
phiền toái của nhà Chu như Tăng tử vấn chép, thì thật là ngược đời. Vì
vậy mà đời Tống đã có người bảo: “Ông Lão tử tuyệt diệt lễ nhạc với
ông Lão tử mà Khổng tử tới hỏi lễ, không phải là một người” (trong
cuốn Lâm hạ ngẫu đàm của Ngô Tử Luông – do La Căn Trạch dẫn
trong Chu tử khảo sách tr.253). Chủ trương có hai Lão tử của Diệp
Thích, Tống Dật Danh, Đàm Giới Phủ, Tiền Mục (coi lại đầu tiết này)
có lẽ bắt đầu từ đó.
11. Tôi muốn nói thêm: “Ông Khổng tử trong Luận ngữ đề cao lễ nghĩa,
coi trọng đạo trung hiếu với ông Khổng tử hỏi lễ Lão tử cũng không
phải là một người”. Khổng tử trọng các ẩn sĩ nhưng vẫn giữ chủ
trương của mình: tận tâm lo việc nước nhà, giáo hoá mọi người, lập
trật tự trong xã hội, dù biết đạo mình không ai theo thì cũng cứ gắng
sức làm. Cho nên khi Tử Lộ bảo hai ẩn sĩ là Tràng Thư và Kiệt Nịch
chê ông phí công vô ích, không sao đổi đời loạn ra trị được, ông ngậm
ngùi than: “Người ta không thể làm bạn với cầm thú được. Nếu ta
chẳng sống chung với người trong xã hội thì sống với ai? Vả lại nếu
thiên hạ trị rồi thì ta cần gì phải sửa đổi?” (Vi tử bài 6). Ông Khổng tử
đó mà lại có thể nghe được lời khuyên này của Lão: “Kẻ làm con, kẻ
làm tôi đều không có cách gì để giữ mình cả”, nghĩa là bỏ đạo làm
con, làm tôi mà ở ẩn một mình trong rừng núi, làm bạn với cầm thú ư?
Còn ông Lão tử kia đương làm quan sử cho nhà Chu sao có thể nói câu
đó mà không ngượng?
12. Vì vậy truyện hỏi lễ đó dù được nhiều sách chép, dù được các nhà Nho
và Tư Mã Thiên nữa thu thập, cũng không đáng cho ta tin.
13. Những lí lẽ của hai phái “có” và “không” đưa ra chỉ là những suy luận,
không thể gọi là chứng cứ xác thực được; không bên nào thuyết phục
nổi bên nào, nhưng riêng phần chúng tôi thì cho rằng lập luận của phái
“không” dễ chấp nhận hơn.
14. Khi thấy nhà Chu suy rồi, Lão tử bỏ đi, tới cửa quan, viên quan coi
cửa là Doãn Hỉ yêu cầu ông viết sách để lại. Ông viết xong rồi đi, sau
không biết ở đâu, ra sao.
15. Sử kí chỉ chép là tới cửa quan, không nói là tới cửa quan nào. Nhưng
thời đó nói “cửa quan” thì người ta hiểu là cửa Hàm Cốc, cửa ngõ qua
Tần.
16. Còn Doãn Hỉ là ai? Chúng ta cũng không biết chắc. Vũ Đồng trong
Trung Quốc triết học đại cương (quyển Thượng – tr.25 – Thương vụ
ấn quán) không rõ căn cứ vào đâu bảo Doãn Hỉ sinh vào khoảng 440
đời Chu Khảo vuơng, mất vào 360 đời Chu Hiển vương, và là đồng
bối của Dương tử, Lão tử, Liệt tử. Theo Hán chí chu tử lược thì Doãn
Hỉ soạn cuốn Quan Doãn tử gồm 9 thiên (đã thất truyền, bản lưu hành
ngày nay là nguỵ thư) rồi cùng với Lão tử đi ở ẩn.
17. Đi qua cửa Hàm Cốc là vào đất Tần. Thiên Dưỡng sinh chủ trong
Trang tử bảo: “Lão Đam chết, Tần Dật (có sách chép là Tần Thất) lại
điếu, khóc ba tiếng rồi ra”. Dưỡng sinh chủ ở trong phần Nội thiên, do
Trang tử viết chỉ có thể tin được một phần thôi[24]. Trang tử là một
triết gia, thích thể ngụ ngôn, chứ không phải là một sử gia. Một sách
khác còn cho biết Lão tử chết ở Phù Phong, chôn ở Hoè lí (làng Hoè).
Chi tiết đó không có cách nào kiểm tra được, chỉ nên ghi lại cho đủ
thôi.
6. Lão tử có phải là Lão Lai tử không?
Tư Mã Thiên ngờ là không phải. Trong thiên Trọng Ni đệ tử, ông bảo Khổng
tử vốn trọng Lão tử ở Chu, (…), Lão Lai tử ở Sở; như vậy ông coi Lão tử và
Lão Lai tử là hai người rồi.
Trong truyện Lão tử ông viết: “Có người bảo: Lão Lai tử cũng là người nước
Sở, viết mười lăm thiên sách nói về công dụng của Đạo gia, cũng đồng thời
với Khổng tử”; còn Lão tử viết hai thiên nói về ý nghĩa của Đạo và Đức; như
vậy cũng là hai người nữa.
Ông bảo Lão Lai tử đồng thời với Khổng tử; như theo Vũ Đồng (sách đã
dẫn) thì sách Khổng Tùng tử bảo Lão Lai tử đồng thời với Tử Tư, cháu nội
Khổng tử, có lần vấn đáp với Tử Tư.
Vậy Lão Lai tử là người có thật, nhưng chỉ giống Lão tử ba điểm: cùng họ
Lão, cùng là người Sở, cùng thuộc phái Đạo gia; không thể bảo Lão Lai tử là
Lão tử được.
Tư Mã Thiên có lí khi nghi ngờ thuyết trên, ông chỉ chép lời người ta đồn
thôi. Không một học giả nào tin thuyết đó hết, không nên coi là một nghi vấn
nữa.
7. Lão tử có phải là thái sử Đam 儋 không?
Tư Mã Thiên theo truyền thống sử gia của Trung Quốc, giữ đúng nguyên
tắc: “Xuân Thu chi nghĩa, tín dĩ truyền tín, nghi dĩ truyền nghi” (Cốc Lương
truyện), cho nên chép thêm cả thuyết Lão tử là thái sử Đam nhà Chu, mà ông
phê bình gì cả, chỉ bảo “sự thực ra sao”.
Như vậy thuyết đó đã có từ đời Tây Hán; nhưng tới thế kỉ XVIII mới được
Tất Nguyên (trong Đạo Đức kinh khảo dị) và Uông Trung (trong Lão tử
khảo dị) chủ trương, và gần đây học giả bênh vực nó mạnh nhất, kiên kì nhất
là La Căn Trạch (trong sách đã dẫn).
Đại khái La đưa ra những lí do này:
1. 聃 với 儋 đồng âm, thời xưa dùng như nhau;
2. cả hai người đều làm sử quan nhà Chu;
3. cả hai đều qua cửa Hàm Cốc vì thái sử Đam đã có lần sang Tần yết
kiến Tần Hiến công;
4. thuyết đó rất hợp với sự kiện này: hậu duệ đời thứ 8 của Lão tử (tên là
Giải) đồng thời với hậu duệ thứ 13 của Khổng tử (tên Khổng An
Quốc).
Tư Mã Thiên chắc đã tra cứu trong gia phả họ Lão, bảo con Lão tử là Tôn,
làm tướng nước Nguỵ, được phong ở Đoàn Can[25]. Theo Lục quốc niên
biểu trong Sử kí thì “con của Lão tử” làm tướng quốc nước Nguỵ năm 273
(Chu Xá vương, năm 24). Con của Khổng tử là Lí sinh năm 532, mất năm
484. Hai người sinh cách nhau khoảng hai trăm năm, bằng sáu bảy thế hệ,
cũng gần đúng: mỗi thế hệ khoảng 30 năm. Từ Khổng tử tới Khổng An Quốc
(hậu duệ 13 đời) ở triều Hán Cảnh đế, Vũ đế, vào khoảng 400 năm, mỗi thế
hệ cũng khoảng 30 năm.
Vả lại “Sau khi Khổng tử mất 129 năm” – tức vào khoảng 479 – 129 = 350,
thái sử Đam qua Tần yết kiến Hiến Công; giả sử năm đó thái sử Đam 30
tuổi, hai ba chục năm sau sinh ra Tôn (vào khoảng 330 hay 320, thì khi Tôn
làm tướng quốc nước Nguỵ, tuổi vào khoảng bốn năm chục (330 – 273 = 57,
hay 320 – 273 = 47); nếu năm 350 đã sinh ra Tôn rồi, thì khi làm tướng
Nguỵ, Tôn vào khoảng 80 tuổi (350 – 327 = 77), cũng vẫn có thể được.
Ba lí do đầu, xét riêng từng lí do một thì không có giá trị gì cả, gồm cả ba thì
cũng có giá trị một phần nào. Lí do thứ tư có giá trị hơn cả, nhưng Cao Hanh
không biết căn cứ vào đâu mà lại bảo Tôn tướng Nguỵ được phong ở Đoàn
Can không ...
Chú dịch và giới thiệu:
Nguyễn Hiến Lê
Nhà xuất bản: Văn hoá Thông Tin
Năm xuất bản: 2006
(có sửa chữa và bổ sung)
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua sách.
Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả, người dịch và
Nhà Xuất Bản
MỤC LỤC:
Vài lời thưa trước
PHẦN I. ĐỜI SỐNG VÀ TÁC PHẨM
§I. ĐỜI SỐNG
1. Sự tích Lão tử
2. Quê quán
3. Tên họ
4. Chức tước
5. Lão tử với Khổng tử có gặp nhau không? Khổng tử có hỏi Lão tử về lễ không?
6. Lão tử có phải là Lão Lai tử không?
7. Lão tử có phải là thái sử Đam 儋 không?
8. Tuổi thọ
§II. TÁC PHẨM
A. XUẤT HIỆN THỜI NÀO?
1. Về nội dung
2. Về hình thức
3. Dư Bồi Lâm còn đưa ra lí do này nữa
B. DO AI VIẾT?
C. BẢN LÃO TỬ LƯU HÀNH NGÀY NAY
D. CÁC BẢN CHÚ THÍCH
PHẦN II. HỌC THUYẾT
§I. ĐẠO VÀ ĐỨC
Lão tử là người đầu tiên luận về vũ trụ
A. ĐẠO: BẢN NGUYÊN CỦA VŨ TRỤ
Bản thể của đạo
Dụng của đạo
B. ĐỨC: SỰ TRƯỞNG THÀNH CỦA VẠN VẬT
Một học thuyết vô thần
§II. TÍNH CÁCH VÀ QUI LUẬT CỦA ĐẠO
a) Phác
b) Tự nhiên
c) Luật Phản phục
Qui kết I: Sự luân phiên và sự tương đối của các luật tương phản
Qui kết II: Tổn hữu dư, bổ bất túc
d) Vô – triết lí Vô
§III. ĐẠO Ở ĐỜI
Xã hội theo Khổng
Lật ngược nền luân lí của Khổng
Lật ngược chế độ tôn ti của Khổng
Xử kỉ
Tiếp vật
Dưỡng sinh – Người đắc đạo
§IV. ĐẠO TRỊ NƯỚC
Hữu vi thì hỏng – Trị nước phải như nấu cá nhỏ
Chính sách vô vi
Ngăn ngừa trước bằng “phác”
Tư cách ông vua
Quốc gia lí tưởng
KẾT
PHẦN III. DỊCH ĐẠO ĐỨC KINH
THIÊN THƯỢNG
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30,
31, 32, 33, 34, 35, 36, 37
THIÊN HẠ
38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64,
65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81
Vài lời thưa trước
Về cuốn Lão tử – Đạo Đức kinh (LT-ĐĐK), trong bộ Hồi kí (Nxb Văn học –
1993), cụ Nguyễn Hiến Lê cho biết:
“Chúng ta đã có vài ba bản dịch Đạo đức kinh rồi.
Tôi góp thêm một bản dịch nữa, với một phần giới thiệu khoảng 100 trang về
học thuyết của Lão tử.
Theo các học giả Trung Hoa gần đây, cho rằng Lão sinh sau Khổng, Mặc,
trước Mạnh; và bộ Đạo đức kinh xuất hiện sau Luận ngữ, vào thế kỉ thứ IV
hay thứ III, trước Tây lịch, do môn sinh của Lão tử chép lại lời thầy; tuy có
khoảng mười chương của người đời sau thêm vào nhưng tư tưởng vẫn là
nhất trí.
Lão tử là triết gia đầu tiên của Trung Quốc luận về vũ trụ, có một quan niệm
tiến bộ, vô thần về bản nguyên của vũ trụ mà ông gọi là Đạo. Ông lại xét
tính cách và qui luật của Đạo, dùng những qui luật đó làm cơ sở cho đạo ở
đời và đạo trị nước, tức cho một nhân sinh quan và một chính trị quan mới
mẻ. Do đó mà học thuyết của ông hoàn chỉnh nhất, có hệ thống nhất thời
Tiên Tần.
Ông tặng cho hậu thế những tư tưởng bình đẳng, tự do, trọng hoà bình,
không tranh giành nhau mà khoan dung với nhau (dĩ đức báo oán), trở về tự
nhiên, sống thanh tịnh. Trở về tự nhiên theo ông không phải là trở về thời ăn
lông ở lỗ, sống bằng săn bắn và hái trái cây, mà trở về buổi đầu thời đại
nông nghiệp, thời bộ lạc, có tù trưởng nhưng tù trưởng cũng sống như mọi
người khác, không can thiệp vào đời sống của dân. Nước thì nhỏ mà dân ít;
các nước láng giềng trông thấy nhau, nghe được tiếng cho sủa, tiếng gà gáy
của nhau mà dân các nước không qua lại với nhau, có thuyền có xe mà
không ngồi, dùng lối thắc dây thời thượng cổ mà không có chữ viết (chương
80). Thời đó có thể là thời Nghiêu Thuấn mà tất cả các triết gia thời Tiên
Tần đều cho là hoàng kim thời đại. Dĩ nhiên nhân loại không lùi lại như vậy
được và đọc Lão tử chúng ta chỉ nên nhớ rằng ông muốn cứu cái tệ đương
thời là đời sống đã phúc tạp quá, từ kinh tế tới lễ nghi, chính trị, tổ chức xã
hội; con người đã gian tham, xảo trá nhiều, do đó mà loạn lạc, nghèo khổ.
Học thuyết của ông bổ túc cho học thuyết của Khổng, nén bớt tinh thần hăng
hái hữu vi, quá thực tiễn của Khổng. Hiện nay người phương Tây chán nản
nền văn minh cơ giới, sản xuất để tiêu thụ rồi tiêu thụ để sản xuất, muốn trở
lại đời sống thiên nhiên, giản dị, nên Đạo đức kinh lại được nhiều người
đọc[1]. Nhưng các chính trị gia không ai theo bài học của ông cả; tôi nghĩ
những câu như: “Càng ban nhiều lệnh cấm thì dân càng nghèo” (Chương
57), “Can thiệp vào việc dân nhiều quá thì dân sẽ trá nguỵ, chống đối”
(Chương 60) rất đáng cho họ suy ngẫm”.
Trong Lão tử và Đạo Đức kinh nhìn từ văn minh Lạc Việt đăng trên Diễn
đàn Lí học Đông phương, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh cho rằng cuốn LTĐĐK của Nguyễn Hiến Lê (Nxb Văn Hóa Thông Tin – 1994) “là cuốn sách
tập hợp khá nhiều tư liệu, phân tích sâu sắc và được biên dịch một cách
khách quan…”[2]. Một người khác cũng đánh giá cao bản dịch của cụ
Nguyễn Hiến Lê. Trong Đạo Đức kinh dễ hiểu, Phan Ngọc bảo: “Trong việc
dịch này tôi cảm ơn các bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Hiến Lê, Thu
Giang, Giáp Văn Cường mà tôi đều tham khảo với tinh thần “Hư tâm cầu
học”. Đó đều là những bản dịch tốt, biểu hiện một trình độ Hán học sâu và
một công phu khảo cứu hết sức nghiêm túc. So với nhiều bản dịch tiếng
Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Nga thì nó dễ hiểu hơn” [3].
LT-ĐĐK gồm có 3 phần:
Phần I: Đời sống và tác phẩm
Phần II: Học thuyết
Chương 1: Đạo và đức
Chương 2: Tính cách và qui luật của đạo
Chương 3: Đạo ở đời
Chương 4: Đạo trị nước
Phần III: Dịch đạo đức kinh
Thiên thượng: từ chương 1 đến chương 37
Thiên hạ: từ chương 38 đến chương 81
Trong phần III, mỗi chương gồm các phần nhỏ mà tôi tạm gọi là (vì trong
sách không ghi):
- Nguyên văn chữ Hán
- Phiên âm
- Dịch nghĩa
- Lời giảng (từ này của cụ Nguyễn Hiến Lê, xem tiết Tư cách ông vua,
chương IV, phần II)
Nhưng cũng có chương, như chương 71, cụ lại đặt phần dịch nghĩa ở cuối;
cũng có chương, như chương 12, chương 40… không có lời giảng. Tuy phần
dịch nghĩa được in nghiêng, nhưng trong eBook này, tôi cũng ghi thêm dấu
hoa thị (* – [trong eBook mới, tôi thay bằng đường vạch ngang. QuocSan])
để phân cách các phần nhỏ đó ra cho tiện phân biệt.
Trước đây tôi đã chép lại 46 chương của phần III đăng trên Website Hoa Sơn
Trang. Cuối tháng 12 năm 2009, tôi đã mua được cuốn LT-ĐĐK, nên tôi
chép trọn phần III: Dịch Đạo Đức kinh trước, sau đó mới chép phần I và
phần II. Ngoài lí do sẵn có 46 chương trong phần dịch, còn một lí do nữa là
sau khi chép xong phần dịch rồi, đến khi chép hai phần kia, gặp những câu
trích dẫn từ phần dịch, ta chỉ cần copy rồi dán vào là xong, rất tiện lợi. Một lí
do nữa, đó là vì tôi nghĩ rằng nếu chúng ta đọc phần dịch trước rồi sau đó
mới đọc các phần kia thì sẽ dễ hiểu hơn.
Bản Hoa Sơn Trang tuy chỉ mới có 46 chương, mà phần Lời giảng (Hoa Sơn
gọi là Lời bàn) trong nhiều chương bị lược bỏ vài chữ, vài câu hoặc vài
đoạn; phần Nguyên văn và phần Dịch nghĩa cũng không giống hẳn trong
sách (trong sách, nguyên văn chữ Hán và phiên âm có nhiều chỗ cũng không
khớp nhau), nhưng nhờ có bản Hoa Sơn Trang mà việc chép lại 46 chương
đầu nhanh chóng và dễ dàng hơn so với 35 chương còn lại rất nhiều.
Xin chân thành cảm ơn Hoa Sơn Trang và xin trân trọng giới thiệu cùng các
bạn.
Goldfish
Tháng 01 năm 2010
Sửa chữa và bổ sung đầu tháng 12 năm 2011
PHẦN I: ĐỜI SỐNG VÀ TÁC PHẨM
CHƯƠNG I: ĐỜI SỐNG
Lão tử là một hiện tượng khá lạ trong lịch sử triết học của nhân loại. Ông là
một triết gia lớn, ảnh hưởng tới cả Đông Á ngang với Khổng tử, thời nào
cũng được dân tộc Trung Hoa tôn trọng[4] không như Mặc tử mà tên tuổi bị
chìm luôn trong hai ngàn năm; có phần còn hơn Khổng tử nữa vì chưa hề bị
mạt sát tàn nhẫn như họ Khổng trong bảy tám chục năm nay; mà từ năm 165
(đời Hậu Hán) lại còn được Đạo gia tôn làm Thái Thượng Lão quân, một
trong ba vị thần tối cao của họ; đền thờ ông, Đại thanh cung[5], tương truyền
dựng ở tại nơi ông sinh, hiện nay vẫn còn ở tỉnh Hà Nam, hương khói lúc
này chắc đã lạnh, nhưng pho tượng cao bốn mét của ông thì may ra vẫn còn.
Vậy mà chúng ta không biết gì chắc chắn về đời ông, về cả tác phẩm bất hủ
mang tên ông nữa, mặc dầu Trung Hoa là dân tộc sớm biết trọng sử nhất thế
giới ngay từ đời Chu, ba ngàn năm trước, họ đã có các sử quan ghi chép
những biến cố quan trọng từng năm cho mỗi triều đại.
Từ thời Tư Mã Thiên, bao nhiêu người tra cứu đủ các sách cổ để tìm hiểu
Lão tử tên thật là gì, sống ở thời nào, làm gì, tiếp xúc với những ai, nhưng
chỉ đưa ra được những giả thuyết, và càng bàn lại càng thêm rối vì ý kiến
mâu thuẫn nhau, tới nỗi có người – một học giả Nhật Bản tên là Tân Điền Tả
Hữu Cát – phủ nhận hết thảy, bảo Lão tử là một con người huyền thoại,
không hề có!
Ngay đến tác phẩm Lão tử (Đạo Đức kinh là tên đời Hán đặt cho) rất ngắn,
mà mỗi nhà chấm câu một khác[6], tới nay đã có trên hai trăm bản hiệu đính,
giải thích, làm tốn không biết bao nhiêu giấy mực. Lại thêm tác phẩm đó do
ai viết, xuất hiện thời nào, cũng là vấn đề nan giải nữa. Riêng La Căn Trạch,
trong cuốn Chư tử khảo sách (Nhân dân xuất bản xã – Bắc Kinh – 1958)
cũng đã viết ba bài, tổng cộng trên 30.000 chữ để góp ý kiến về con người
Lão tử và tác phẩm Lão tử và đã làm một bảng kiệt kê kiến giải của trên ba
chục học giả trước ông và đồng thời với ông. Mà rốt cuộc, các nghi vấn của
người trước nêu ra vẫn còn là nghi vấn, có thể sẽ vĩnh viễn là nghi vấn,
không làm sao giải nổi. Một triết gia với một tác phẩm chỉ khoảng năm ngàn
chữ – mươi, mười lăm trang sách – mà làm cho hậu thế thắc mắc, hao tốn
tâm trí như vậy, có thế nói là không tiền khoáng hậu trong lịch sử.
1. Sự tích Lão tử
Đời sống của Lão tử được chép lần đầu tiên trong bộ Sử kí của Tư Mã Thiên
phần Liệt truyện, thiên 63: Lão tử, Trang tử, Thân Bất Hại, Hàn Phi. Toàn
văn như sau:
1. Lão Tử là người làng Khúc Nhân, hương[7] Lệ, huyện Hỗ, nước Sở; họ Lí,
tên Nhĩ, tự là Đam (聃)[8], làm quan sử, giữ kho chứa sách của nhà Chu.
Khi Khổng tử qua Chu, lại hỏi Lão tử về lễ, Lão tử đáp:
“Những người ông nói đó, thịt xương đều đã nát thịt cả rồi, chỉ còn lại lời
của họ thôi. Vả lại, người quân tử nếu gặp thời thì ngồi xe ngựa, không gặp
thời thì đội nón lá mà đi chân. Tôi nghe nói người buôn giỏi thì giấu kĩ vật
quí, coi ngoài như không có gì; người quân tử đức cao thì dong mạo như
ngu độn. Ông nên bỏ cái khí kiêu căng, cái lòng đa dục, cái vẻ hăm hở cùng
cái chí quá hăng của ông đi, những cái đó không có ích gì cho ông đâu. Tôi
chỉ khuyên ông có bấy nhiêu thôi”.
Khổng tử về, bảo môn sinh: “Loài chim, ta biết nó bay được; loài cá ta biết
nó lội được; loài thú ta biết nó chạy được. Chạy thì ta dùng lưới để bẫy, lội
thì ta dùng câu để bắt, bay thì ta dùng tên để bắn. Đến loài rồng cưỡi gió
mây mà lên trời thì ta không sao biết được. Hôm nay ta gặp ông Lão tử, ông
ta là con rồng chăng?”.
Lão tử trau giồi đạo đức; học thuyết của ông cốt ở chỗ giấu mình, ẩn danh.
Ông ở nước Chu đã lâu, thấy nhà Chu suy bèn bỏ đi. Đến cửa quan, viên coi
quan là Doãn Hỉ bảo: “Ông sắp đi ẩn, rán vì tôi mà viết sách để lại”. Thế là
Lão tử viết một cuốn gồm hai thiên thượng và hạ, nói về ý nghĩa của “Đạo”
và “Đức”, được trên năm ngàn chữ. Viết xong rồi đi, không ai biết chết ra
sao, ở đâu.
Có người bảo: Lão Lai tử cùng là người nước Sở, viết mười lăm thiên sách
nói về công dụng của Đạo gia cũng đồng thời với Khổng tử.
Đại khái Lão tử sống trên 160 tuổi, có người bảo trên 200 tuổi, nhờ ông tu
đạo để kéo dài tuổi thọ.
Sau khi Khổng tử mất 129 năm, sử chép rằng viên Thái tử nhà Chu tên là
Đam 儋, yết kiến Tần Hiến công[9], tâu: “Mới đầu Tần hợp với Chu, hợp
được 500 năm rồi thì tách ra, tách được 70 năm thì có một bá vương xuất
hiện”.
Có người bảo Đam đó tức là Lão tử, có người lại bảo không phải. Không
biết sự thực đó ra sao.
Lão tử là một bậc quân tử ở ẩn. Con ông tên là Tôn, làm tướng quốc nước
Nguỵ, được phong đất ở Đoạn Can[10]. Con của Tôn là Chú, con của Chú
là Cung, chút của Cung là Giả (hay Giá). Giả làm quan dưới triều Hiếu Văn
đế nhà Hán. Con của Giả là Giải làm Thái phó của Giao Tây vương tên là
Ngang, do đó mà cư trú ở Tề.
Người đời hễ theo thuyết của Lão thì chê bai Nho học, mà theo Nho học thì
cũng chê bai Lão tử. “Đạo khác nhau thì khó cùng bàn với nhau được”, là
nghĩa vậy chăng? Lí Nhĩ chủ trương chỉ cần “vô vi” mà dân sẽ tự cải hoá,
“thanh tĩnh” mà dân sẽ tự nhiên thuần chính[11].
Cũng trong bộ Sử kí còn một đoạn nữa chép lời Lão tử khuyên Khổng tử:
“Tôi nghe nói người giàu sang tiễn nhau bằng tiền bạc, người nhân tiễn
nhau bằng lời nói. Tôi không phải là người giàu sang, mạn phép tự coi là
người nhân mà tiễn ông bằng lời này: kẻ thông minh và sâu sắc thì khó sống
vì ham phê bình người; kẻ giỏi biện luận, biết nhiều thì nguy tới thân vì hay
nêu cái xấu của người. Kẻ làm con và kẻ làm tôi đều không có cách gì để giữ
mình cả”. (Phần Thế gia – Thiên 47 – Khổng tử).
Để viết hai đoạn trên, Tư Mã Thiên đã dùng nhiều sử liệu về Lão tử thời
Tiên Tần để lại; đặc biệt là các sử liệu trong bộ Trang tử (các thiên Thiên
đạo, Ngoại vật, Thiên vận…), các bộ sử cổ hoặc gia phả họ Lão, có thể cả
trong cuốn Quan Doãn tử nữa (coi La Căn Trạch – sách đã dẫn – tr.255).
Ngoài ra, các bộ Tuân tử, Hàn Phi tử, Chiến Quốc sách, Lã Thị Xuân Thu
cũng nhắc đến Lão tử, nhưng chỉ phê bình học thuyết chứ không cho biết gì
thêm về đời sống của ông trừ điểm này: Lão tử là thầy học của Khổng tử (Lã
Thị Xuân Thu, thiên Đương nhiễm) mà không ai có thể tin được.
Phải đợi tới khoảng hai thế kỉ sau khi bộ Sử kí của Tư Mã Thiên ra đời,
chúng ta mới thấy được một tài liệu nữa trong bộ Tiểu Đái kí[12], thiên Tăng
tử vấn, thuật lại việc Khổng tử hỏi Lão tử về lễ. Tất cả gồm bốn cố sự, đều
do Khổng tử kể lại lời của Lão tử về việc giữ bài vị của tổ tiên, về việc chôn
cất, về việc để tang (cố sự 1, 3, 4). Duy có cố sự 2 đáng cho ta để ý: Lần đó
Khổng tử theo Lão tử làm trợ táng ở Hạng Đảng, giữa đường gặp nhật thực.
Lão tử bảo: “Khâu! Ngừng lại, đặt quan tài ở lề đường bên phải, ngưng tiếng
khóc để đợi sự biến đổi”. Khi hết nhật thực rồi, đám táng mới tiếp tục đi.
Lão tử bảo: “Như vậy là lễ” (…).
Đại khái những tài liệu chúng ta biết được về Lão tử chỉ có bấy nhiêu.
Tư Mã Thiên đã tốn công tra cứu trong tất cả các sách cổ, thận trọng ghi hết
những ý kiến khác nhau của nhiều người và gợi cho người sau nhiều điểm
nghi vấn mà chúng tôi sẽ lần lượt xét cùng với ý kiến của một số học giả gần
đây.
2. Quê quán
Các bản Sử kí lưu hành hiện nay đều chép là Lão tử gốc ở làng Khúc Lí[13],
hương Lệ 厲[14], huyện Hỗ 苦[15] nước Sở. Nhưng có nhà như Lục Đức
Minh, Khổng Dĩnh Đạt… lại bảo Sử kí chép là nước Trần, huyện Tương 相,
hương Lại 賴 hoặc 瀨[16]. Vậy có nhiều bản Sử kí do người sau đã tự ý sửa
lại. Không sao biết được bản nào là gốc; chỉ biết Tư Mã Thiên không đưa ra
một giả thuyết nào khác, không coi quê quán của Lão tử là một nghi vấn, mà
đa số học giả từ trước tới nay đều theo thuyết: nước Sở, huyện Hỗ, hương
Lệ.
Thực ra về địa điểm, các thuyết đó đều giống nhau, chỉ có tên gọi là khác:
- 厲 賴 瀨[17] thời xưa đọc như nhau, thay cho nhau.
- Huyện 相 cũng chính là huyện 苦, thời Chiến Quốc gọi là Hỗ, thời Xuân
Thu gọi là Tương.
- Và Trần cũng là Sở: thời Xuân Thu là nước Trần, năm 478[18], tức sau khi
Khổng tử mất được một năm, Trần bị Sở diệt.
Về địa điểm mỗi cách gọi có một ý nghĩa quan trọng; gọi là Sở là Hỗ, có thể
ngầm nhận rằng Lão tử là người thời Chiến Quốc, mà gọi là Trần, Tương thì
có thể ngầm nhận rằng ông là người thời Xuân Thu. Nhưng chúng tôi cho
rằng Tư Mã Thiên có lẽ không dùng chữ chính xác tới mức đó; vì một mặt
ông khẳng định Lão tử là người nước Sở (cho nên ở dưới ông mới viết: “Lão
Lai tử cũng (亦)[19] là người Sở”), huyện Hỗ, tức dùng những tên thời
Chiến Quốc; một mặt ông lại bảo Lão tử gặp Khổng tử ở thời Xuân Thu. Có
thể đó chỉ là do ông sơ ý chứ chúng ta chưa nên vội cho ông là mâu thuẫn
với chính ông.
3. Tên họ
Tư Mã Thiên bảo Lão tử họ Lí, tên Nhĩ, tự là Đam; ông có vẻ tin như vậy
nhưng cũng đưa thêm hai thuyết nữa mà ông nhận rằng không biết đúng hai
sai: một thuyết Lão tử là Lão Lai tử, cũng người nước Sở, cũng viết sách,
đồng thời với Khổng tử; một thuyết, Lão tử là viên thái sử nhà Chu cũng tên
là Đam, nhưng chữ Đam này 儋, yết kiến Tần Hiến Công vào khoảng năm
350 thời Chiến Quốc.
Họ, tên, và tên tự đó rất thông dụng từ xưa tới nay. Tên là Nhĩ (tai), tự là
Đam 聃 (tai dài) thì rất hợp. Theo truyền thuyết Lão tử lại rất thọ, cho nên
người ta còn gọi Lão Đam (ông già tai dài), và vì tôn trọng mà gọi là Lão tử.
Người đầu tiên chúng tôi được biết đã bác thuyết “họ Lí” là Dư Bồi Lâm
(sách đã dẫn). Dư bảo:
“Tra khắp các sách cổ thì thời Xuân Thu không có họ Lí, mãi đến thời Chiến
Quốc mới có Lí Khối, Lí Khắc, Lí Mục v.v…, như vậy đủ biết họ Lí xuất
hiện rất trễ. Lão tử phải họ Lão. Sách Tả truyện, năm 15 đời Thành công có
Lão Tá, năm 14 đời Chiêu công có Lão Kì, Luận ngữ có Lão Bành, Sử kí có
Lão Lai. Không thể tra khảo để biết Lão tử có thuộc dòng họ những người
đó không, nhưng không còn nghi ngờ gì nữa, thời cổ đã có họ Lão rồi. Vả lại
các triết gia thời Tiên Tần đều gọi bằng họ, như Khổng tử, Mặc tử, Trang tử,
Tuân tử, Hàn tử, không nhà nào không như vậy. Lão tử không ra ngoài lệ đó.
Gọi là Lão tử, chứ không Lí tử, là Lão Đam chứ không Lí Đam, như vậy rõ
ràng là họ Lão chứ không phải họ Lí. Họ Lão, mà gọi lầm ra họ Lí, do lẽ hai
chữ Lão, Lí đọc hơi giống nhau, cũng như Tuân 荀 Khanh bị gọi nhầm là
Tôn 孫 Khanh vậy”[20].
Dư Bồi Lâm có lí trừ điểm cuối cùng: Lí khó lầm với Lão được. Thuyết đó
ông mới đưa ra năm 1973 ở Đài Loan, không biết đã có ai phê bình chưa.
4. Chức tước
Lão tử làm quan sử, giữ kho sách của nhà Chu, tức như chức Giám đốc thư
viện Quốc gia ngày nay. Điểm này, Tư Mã Thiên chép theo thiên Thiên đạo
trong Trang tử[21]. Đời sau không thấy ai nghi ngờ mà cũng không ai tìm ra
được dưới thời vua nào của nhà Chu (sử Chu không chép).
5. Lão tử với Khổng tử có gặp nhau không? Khổng tử có hỏi Lão tử về lễ
không?
Vấn đề này gây nhiều cuộc tranh luận nhất, tới nay vẫn chưa giải quyết
xong.
Chúng ta hãy để riêng ra chủ trương của Diệp Thích, Tống Dật Danh, Đàm
Giới Phủ, Tiền Mục cho rằng có hai Lão tử: một Lão tử giảng lễ cho Khổng
tử và một Lão tử, tác giả cuốn Lão tử. Chủ trương đó cơ hồ không ai chấp
nhận.
Còn lại các học giả khác thì xét chung, trước đời Thanh hầu hết ai cũng tin
rằng Khổng tử có yết kiến Lão tử để hỏi về lễ; từ đời Thanh mới có và nhà
ngờ rằng không, gần đây số người chủ trương “không” đông hơn số người
chủ trương “có”.
Trong phái chủ trương “có”, phải kể Hồ Thích, Cao Hanh, Quách Mạc
Nhược; trong phái chủ trương “không”, có Tất Nguyên, Uông Trung, Lương
Khải Siêu, Cố Hiệt Cương, La Căn Trạch v.v…
Chúng tôi nhắc lại, những đoạn ghi cuộc “vấn lễ” (hỏi về lễ) đó chép trong
Sử kí và Tiểu Đái kí, mà chúng tôi dẫn ở trên. Ngoài ra còn những thiên
Thiên địa, Thiên đạo, Thiên vận, Điền Tử Phương, Trí Bắc du trong Trang
tử và thiên Đương nhiễm trong Lã thị Xuân Thu, cũng nhắc qua nhưng
không cho biết thêm gì cả.
Đại khái phái chủ trương “có” đưa ra những lí lẽ này:
1. Sách thời Chiến Quốc có tới bảy tám chỗ nói về việc vấn lễ đó, không
thể là bịa hết được.
2. Tư Mã Thiên là một Nho gia rất sùng bái Khổng tử, lại là một sử gia
rất có lương tâm, nếu không có tài liệu chắc chắn thì sao lại chép
truyện vấn lễ đó, nó làm giảm giá trị của Khổng tử đi; hơn nữa ở bài
Tựa trong thiên Trọng Ni đệ tử (phần Liệt truyện), ông còn kể tên mấy
người mà Khổng tử rất trọng: Lão tử ở Chu, Cừ Bá Ngọc ở Vệ, Án
Bình Trọng ở Tề, Lão Lai tử ở Sở, Tử Sản ở Trịnh, Mạnh Công Xước
ở Lỗ. Năm người sau đều là nhân vật có thật, sử chép rõ ràng, không
có lí gì duy Lão tử lại không có thật, vậy thì việc vấn lễ cũng có nữa.
3. Lễ kí là một bộ kinh của Nho gia, những người biên tập bộ đó (Lưu
Hướng, Đái Đức, Đái Thánh) tất phải là những Nho gia thận trọng,
nhất là trong thiên Tăng tử vấn có chép rằng Lão tử và Khổng tử đi trợ
táng ở Hạng Đảng, giữa đường gặp nhật thực. Việc đó tất có thực, chứ
người ta bịa ra truyện nhật thực làm chi.
Dư Bồi Lâm (sách đã dẫn) cho rằng Khổng tử gặp Lão tử tới hai lần: lần thứ
nhất năm ông 34 tuổi, lần sau hồi ông 51 tuổi ở đất Bái (theo Trang tử[22]).
Những cuộc đàm thoại chép trong Sử kí và việc trợ táng chép trong Tăng tử
vấn đều xảy ra trong lần thứ nhất; còn lần thứ nhì thì chưa tìm thêm được tài
liệu gì cả.
Phái chủ trương “không” bác những lẽ đó:
1. Sách thời Chiến Quốc có nhiều chỗ nói về việc vấn lễ đó thực, nhưng
đều ở trong Ngoại thiên, Tạp thiên bộ Trang tử và Tăng tử vấn bộ Tiểu
Đái kí, những thiên đó trong Trang tử đều không đáng tin, có nhiều
phần chắc rằng tác giả là Đạo gia ở cuối thời Chiến Quốc chịu ảnh
hưởng của Nho gia chứ không phải của Trang tử[23] và của những
Nho gia chân chính. Câu Khổng tử bảo Lão tử là con rồng rút trong
thiên Thiên vận, sách Trang tử, truyện đó chỉ đáng coi là một ngụ
ngôn.
2. Còn chuyện đi trợ táng ở Hạng Đảng (trong Tăng tử vấn) gặp nhật
thực, có điểm đáng nghi là Hạng Đảng ở đâu, không ai biết; có người
ngờ là ở Lỗ, có người ngờ là ở Tống, chứ không phải ở Chu.
3. Vả lại ngay việc Khổng tử qua Chu nghiên cứu về Lễ cũng chưa chắc
đã đúng. Khổng tử thế gia bảo Nam Cung Kính Thúc xin Lỗ Chiêu
công cấp phương tiện cho Khổng tử sang Lạc ấp ở Chu khảo về lễ.
Năm đó là năm Chiêu công 24, tức năm -518, Khổng tử 34 tuổi. Vua
Lỗ cấp cho một cổ xe với hai ngựa và một đứa nhỏ rồi Nam Cung
Kính Thúc cùng đi với Khổng tử. Nhưng theo La Căn Trạch (sách đã
dẫn – tr.254), năm đó Nam Cung Kính Thúc tuổi mới 14, làm sao
được vào yết kiến vua để xin việc đó, làm sao vua Lỗ cho qua Chu
được.
4. Dư Bồi Lâm còn nói Khổng tử qua Chu lần thứ nhì hồi ông 51 tuổi.
Điều này càng khó tin hơn nữa. Năm này (Định công 9) Khổng tử
thăng chức Tư không, bận việc triều đình, thì giờ đâu mà qua Chu và
qua Chu để làm gì?
5. Nếu Lão tử hồi đó đã nổi danh, được Khổng tử kính trọng như vậy thì
tại sao bộ Luận ngữ (bộ sách đáng tin nhất về đời Khổng tử) không
thấy chép, mà tất cả các sách đầu đời Chiến Quốc như Mặc tử, Mạnh
tử nữa cũng không thấy chép?
6. Trong Luận ngữ chỉ có mỗi một đoạn ở đầu thiên Thuật nhi nói đến
một người họ Lão, tức Lão Bành. Đoạn đó như sau:
7. Tử viết: “Thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ, thiết tỉ ư ngã Lão Bành”.
(Khổng tử nói: Ta thuật lại đạo của thánh hiền chứ không sáng tác gì
mới; ta tin và hâm mộ đạo cổ nhân. Ta trộm ví ta với ông Lão Bành).
8. Không ai biết chắc ông Lão Bành đó là ai. Có người bảo là Bành Tổ,
mà Bành Tổ sống bảy tám trăm tuổi, là bề tôi của vua Nghiêu; có
người bảo là một đại phu đời Thương; có người bảo Lão Bành là Lão
Đam, tức Lão tử, nhưng Bành 彭 mà sao thành Đam 耼 được? Lại có
thuyết Lão, Bành là hai người: Lão Đam và Bành Tổ. Thuyết này càng
vô lí hơn nữa.
9. Vả lại Lão tử cực lực phản đối lễ. Chương 38 sách Lão tử chép: “Thất
đạo nhi hậu đức, thất đức nhi hậu nhân, thất nhân nhi hậu nghĩa, thất
nghĩa nhi hậu lễ. Phù lễ giả, trung tín chi bạc, nhi loạn chi thủ”. (Đạo
mất rồi sau mới có đức, đức mất rồi sau mới có nhân, nhân mất rồi
sau mới có nghĩa, nghĩa mất rồi sau mới có lễ. Lễ là biểu hiện sự suy
vi của trung tín (trung hậu, thành tín), là đầu mối của sự hỗn loạn).
10. Một người mạt sát lễ là mầm loạn trong xã hội mà lại ủng hộ cái lễ
phiền toái của nhà Chu như Tăng tử vấn chép, thì thật là ngược đời. Vì
vậy mà đời Tống đã có người bảo: “Ông Lão tử tuyệt diệt lễ nhạc với
ông Lão tử mà Khổng tử tới hỏi lễ, không phải là một người” (trong
cuốn Lâm hạ ngẫu đàm của Ngô Tử Luông – do La Căn Trạch dẫn
trong Chu tử khảo sách tr.253). Chủ trương có hai Lão tử của Diệp
Thích, Tống Dật Danh, Đàm Giới Phủ, Tiền Mục (coi lại đầu tiết này)
có lẽ bắt đầu từ đó.
11. Tôi muốn nói thêm: “Ông Khổng tử trong Luận ngữ đề cao lễ nghĩa,
coi trọng đạo trung hiếu với ông Khổng tử hỏi lễ Lão tử cũng không
phải là một người”. Khổng tử trọng các ẩn sĩ nhưng vẫn giữ chủ
trương của mình: tận tâm lo việc nước nhà, giáo hoá mọi người, lập
trật tự trong xã hội, dù biết đạo mình không ai theo thì cũng cứ gắng
sức làm. Cho nên khi Tử Lộ bảo hai ẩn sĩ là Tràng Thư và Kiệt Nịch
chê ông phí công vô ích, không sao đổi đời loạn ra trị được, ông ngậm
ngùi than: “Người ta không thể làm bạn với cầm thú được. Nếu ta
chẳng sống chung với người trong xã hội thì sống với ai? Vả lại nếu
thiên hạ trị rồi thì ta cần gì phải sửa đổi?” (Vi tử bài 6). Ông Khổng tử
đó mà lại có thể nghe được lời khuyên này của Lão: “Kẻ làm con, kẻ
làm tôi đều không có cách gì để giữ mình cả”, nghĩa là bỏ đạo làm
con, làm tôi mà ở ẩn một mình trong rừng núi, làm bạn với cầm thú ư?
Còn ông Lão tử kia đương làm quan sử cho nhà Chu sao có thể nói câu
đó mà không ngượng?
12. Vì vậy truyện hỏi lễ đó dù được nhiều sách chép, dù được các nhà Nho
và Tư Mã Thiên nữa thu thập, cũng không đáng cho ta tin.
13. Những lí lẽ của hai phái “có” và “không” đưa ra chỉ là những suy luận,
không thể gọi là chứng cứ xác thực được; không bên nào thuyết phục
nổi bên nào, nhưng riêng phần chúng tôi thì cho rằng lập luận của phái
“không” dễ chấp nhận hơn.
14. Khi thấy nhà Chu suy rồi, Lão tử bỏ đi, tới cửa quan, viên quan coi
cửa là Doãn Hỉ yêu cầu ông viết sách để lại. Ông viết xong rồi đi, sau
không biết ở đâu, ra sao.
15. Sử kí chỉ chép là tới cửa quan, không nói là tới cửa quan nào. Nhưng
thời đó nói “cửa quan” thì người ta hiểu là cửa Hàm Cốc, cửa ngõ qua
Tần.
16. Còn Doãn Hỉ là ai? Chúng ta cũng không biết chắc. Vũ Đồng trong
Trung Quốc triết học đại cương (quyển Thượng – tr.25 – Thương vụ
ấn quán) không rõ căn cứ vào đâu bảo Doãn Hỉ sinh vào khoảng 440
đời Chu Khảo vuơng, mất vào 360 đời Chu Hiển vương, và là đồng
bối của Dương tử, Lão tử, Liệt tử. Theo Hán chí chu tử lược thì Doãn
Hỉ soạn cuốn Quan Doãn tử gồm 9 thiên (đã thất truyền, bản lưu hành
ngày nay là nguỵ thư) rồi cùng với Lão tử đi ở ẩn.
17. Đi qua cửa Hàm Cốc là vào đất Tần. Thiên Dưỡng sinh chủ trong
Trang tử bảo: “Lão Đam chết, Tần Dật (có sách chép là Tần Thất) lại
điếu, khóc ba tiếng rồi ra”. Dưỡng sinh chủ ở trong phần Nội thiên, do
Trang tử viết chỉ có thể tin được một phần thôi[24]. Trang tử là một
triết gia, thích thể ngụ ngôn, chứ không phải là một sử gia. Một sách
khác còn cho biết Lão tử chết ở Phù Phong, chôn ở Hoè lí (làng Hoè).
Chi tiết đó không có cách nào kiểm tra được, chỉ nên ghi lại cho đủ
thôi.
6. Lão tử có phải là Lão Lai tử không?
Tư Mã Thiên ngờ là không phải. Trong thiên Trọng Ni đệ tử, ông bảo Khổng
tử vốn trọng Lão tử ở Chu, (…), Lão Lai tử ở Sở; như vậy ông coi Lão tử và
Lão Lai tử là hai người rồi.
Trong truyện Lão tử ông viết: “Có người bảo: Lão Lai tử cũng là người nước
Sở, viết mười lăm thiên sách nói về công dụng của Đạo gia, cũng đồng thời
với Khổng tử”; còn Lão tử viết hai thiên nói về ý nghĩa của Đạo và Đức; như
vậy cũng là hai người nữa.
Ông bảo Lão Lai tử đồng thời với Khổng tử; như theo Vũ Đồng (sách đã
dẫn) thì sách Khổng Tùng tử bảo Lão Lai tử đồng thời với Tử Tư, cháu nội
Khổng tử, có lần vấn đáp với Tử Tư.
Vậy Lão Lai tử là người có thật, nhưng chỉ giống Lão tử ba điểm: cùng họ
Lão, cùng là người Sở, cùng thuộc phái Đạo gia; không thể bảo Lão Lai tử là
Lão tử được.
Tư Mã Thiên có lí khi nghi ngờ thuyết trên, ông chỉ chép lời người ta đồn
thôi. Không một học giả nào tin thuyết đó hết, không nên coi là một nghi vấn
nữa.
7. Lão tử có phải là thái sử Đam 儋 không?
Tư Mã Thiên theo truyền thống sử gia của Trung Quốc, giữ đúng nguyên
tắc: “Xuân Thu chi nghĩa, tín dĩ truyền tín, nghi dĩ truyền nghi” (Cốc Lương
truyện), cho nên chép thêm cả thuyết Lão tử là thái sử Đam nhà Chu, mà ông
phê bình gì cả, chỉ bảo “sự thực ra sao”.
Như vậy thuyết đó đã có từ đời Tây Hán; nhưng tới thế kỉ XVIII mới được
Tất Nguyên (trong Đạo Đức kinh khảo dị) và Uông Trung (trong Lão tử
khảo dị) chủ trương, và gần đây học giả bênh vực nó mạnh nhất, kiên kì nhất
là La Căn Trạch (trong sách đã dẫn).
Đại khái La đưa ra những lí do này:
1. 聃 với 儋 đồng âm, thời xưa dùng như nhau;
2. cả hai người đều làm sử quan nhà Chu;
3. cả hai đều qua cửa Hàm Cốc vì thái sử Đam đã có lần sang Tần yết
kiến Tần Hiến công;
4. thuyết đó rất hợp với sự kiện này: hậu duệ đời thứ 8 của Lão tử (tên là
Giải) đồng thời với hậu duệ thứ 13 của Khổng tử (tên Khổng An
Quốc).
Tư Mã Thiên chắc đã tra cứu trong gia phả họ Lão, bảo con Lão tử là Tôn,
làm tướng nước Nguỵ, được phong ở Đoàn Can[25]. Theo Lục quốc niên
biểu trong Sử kí thì “con của Lão tử” làm tướng quốc nước Nguỵ năm 273
(Chu Xá vương, năm 24). Con của Khổng tử là Lí sinh năm 532, mất năm
484. Hai người sinh cách nhau khoảng hai trăm năm, bằng sáu bảy thế hệ,
cũng gần đúng: mỗi thế hệ khoảng 30 năm. Từ Khổng tử tới Khổng An Quốc
(hậu duệ 13 đời) ở triều Hán Cảnh đế, Vũ đế, vào khoảng 400 năm, mỗi thế
hệ cũng khoảng 30 năm.
Vả lại “Sau khi Khổng tử mất 129 năm” – tức vào khoảng 479 – 129 = 350,
thái sử Đam qua Tần yết kiến Hiến Công; giả sử năm đó thái sử Đam 30
tuổi, hai ba chục năm sau sinh ra Tôn (vào khoảng 330 hay 320, thì khi Tôn
làm tướng quốc nước Nguỵ, tuổi vào khoảng bốn năm chục (330 – 273 = 57,
hay 320 – 273 = 47); nếu năm 350 đã sinh ra Tôn rồi, thì khi làm tướng
Nguỵ, Tôn vào khoảng 80 tuổi (350 – 327 = 77), cũng vẫn có thể được.
Ba lí do đầu, xét riêng từng lí do một thì không có giá trị gì cả, gồm cả ba thì
cũng có giá trị một phần nào. Lí do thứ tư có giá trị hơn cả, nhưng Cao Hanh
không biết căn cứ vào đâu mà lại bảo Tôn tướng Nguỵ được phong ở Đoàn
Can không ...
 





