DANH NGÔN HAY

Theo tâm lý học, giữ im lặng không có nghĩa là bạn không có gì để nói, mà là bạn cho rằng họ chưa sẵn sàng để nghe suy nghĩ của bạn. - Khuyết Danh

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    BẢN TIN HÔM NAY

    Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z6522676591609_b3e220003660ce9886025cb13cd6e2c4.jpg Z6522677129001_17bd516d35a011319452a82197a3aa73.jpg Z6522677286602_b13ed08e2998a1b6aa9910ee881109d7.jpg Z6525839992969_6faa64b79d12133b30a6be09333c5fe5.jpg Z6522677277438_440ab32a671b5e99abb2b9aed75d5c32.jpg Z6522676894451_54bbe0164d862e9e7964e7c2cf8d3bfb.jpg Z6522666617591_24680573b313b2baec1c521b4c60396a.jpg Z6522666570038_2168275e97cf6625d777fac458ce428a.jpg Z6522666545919_91e1eedd56a040b4859d86787b11d179.jpg Z6522666535329_72be407fee4a8d60558e6d779134523c.jpg Z6522666523051_d64865c4feada596bab0d1461be81b4a.jpg Z6522666394947_7045ae98392b026ee38c2bebf4fdf07f.jpg Z6522666404399_cea6f503563075330893134b01a1c8ef.jpg Z6522666410186_de8ccd7cd52da73b72a027e645127e36.jpg Z6522666432361_108e04e8938d2911413f6c50550fa418.jpg Z6399458934835_e3020adc140a1d52f3ff1d736da89bb6.jpg Z6170081214203_5d91029c28dcd8e5fbdb451d75abc93a.jpg HS_dang_tim_doc_sach_tai_kho_mo.jpg HS_dang_tim_doc_sach_tai_kho_mo_3.jpg HS_dang_tim_doc_sach_tai_kho_mo_1.jpg

    SÁCH ĐIỆN TỬ - SÁCH BÁC HỒ

    LIÊN KẾT LIÊN THƯ VIỆN

    💕💕 Bước vào thư viện, ta không chỉ chạm vào những trang sách mà còn chạm vào tâm hồn của những vĩ nhân vĩ đại nhất💕💕

    Ý nghĩa của sách trong cuộc sống

    Lão Tử đạo đức kinh - Nguyễn Hiến Lê

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Thẩm
    Ngày gửi: 10h:00' 24-02-2024
    Dung lượng: 1.4 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    LÃO TỬ – ĐẠO ĐỨC KINH
    Chú dịch và giới thiệu:
    Nguyễn Hiến Lê
    Nhà xuất bản: Văn hoá Thông Tin
    Năm xuất bản: 2006
    (có sửa chữa và bổ sung)
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
    Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua sách.
    Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả, người dịch và
    Nhà Xuất Bản

    MỤC LỤC:
    Vài lời thưa trước
    PHẦN I. ĐỜI SỐNG VÀ TÁC PHẨM
    §I. ĐỜI SỐNG
    1. Sự tích Lão tử
    2. Quê quán
    3. Tên họ
    4. Chức tước
    5. Lão tử với Khổng tử có gặp nhau không? Khổng tử có hỏi Lão tử về lễ không?
    6. Lão tử có phải là Lão Lai tử không?
    7. Lão tử có phải là thái sử Đam 儋 không?
    8. Tuổi thọ
    §II. TÁC PHẨM
    A. XUẤT HIỆN THỜI NÀO?
    1. Về nội dung
    2. Về hình thức
    3. Dư Bồi Lâm còn đưa ra lí do này nữa
    B. DO AI VIẾT?
    C. BẢN LÃO TỬ LƯU HÀNH NGÀY NAY
    D. CÁC BẢN CHÚ THÍCH
    PHẦN II. HỌC THUYẾT
    §I. ĐẠO VÀ ĐỨC
    Lão tử là người đầu tiên luận về vũ trụ
    A. ĐẠO: BẢN NGUYÊN CỦA VŨ TRỤ
    Bản thể của đạo
    Dụng của đạo
    B. ĐỨC: SỰ TRƯỞNG THÀNH CỦA VẠN VẬT
    Một học thuyết vô thần
    §II. TÍNH CÁCH VÀ QUI LUẬT CỦA ĐẠO
    a) Phác
    b) Tự nhiên
    c) Luật Phản phục
    Qui kết I: Sự luân phiên và sự tương đối của các luật tương phản
    Qui kết II: Tổn hữu dư, bổ bất túc
    d) Vô – triết lí Vô
    §III. ĐẠO Ở ĐỜI
    Xã hội theo Khổng
    Lật ngược nền luân lí của Khổng
    Lật ngược chế độ tôn ti của Khổng
    Xử kỉ
    Tiếp vật

    Dưỡng sinh – Người đắc đạo
    §IV. ĐẠO TRỊ NƯỚC
    Hữu vi thì hỏng – Trị nước phải như nấu cá nhỏ
    Chính sách vô vi
    Ngăn ngừa trước bằng “phác”
    Tư cách ông vua
    Quốc gia lí tưởng
    KẾT
    PHẦN III. DỊCH ĐẠO ĐỨC KINH
    THIÊN THƯỢNG
    1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30,
    31, 32, 33, 34, 35, 36, 37
    THIÊN HẠ
    38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64,
    65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81

    Vài lời thưa trước
    Về cuốn Lão tử – Đạo Đức kinh (LT-ĐĐK), trong bộ Hồi kí (Nxb Văn học –
    1993), cụ Nguyễn Hiến Lê cho biết:
    “Chúng ta đã có vài ba bản dịch Đạo đức kinh rồi.
    Tôi góp thêm một bản dịch nữa, với một phần giới thiệu khoảng 100 trang về
    học thuyết của Lão tử.
    Theo các học giả Trung Hoa gần đây, cho rằng Lão sinh sau Khổng, Mặc,
    trước Mạnh; và bộ Đạo đức kinh xuất hiện sau Luận ngữ, vào thế kỉ thứ IV
    hay thứ III, trước Tây lịch, do môn sinh của Lão tử chép lại lời thầy; tuy có
    khoảng mười chương của người đời sau thêm vào nhưng tư tưởng vẫn là
    nhất trí.
    Lão tử là triết gia đầu tiên của Trung Quốc luận về vũ trụ, có một quan niệm
    tiến bộ, vô thần về bản nguyên của vũ trụ mà ông gọi là Đạo. Ông lại xét
    tính cách và qui luật của Đạo, dùng những qui luật đó làm cơ sở cho đạo ở
    đời và đạo trị nước, tức cho một nhân sinh quan và một chính trị quan mới
    mẻ. Do đó mà học thuyết của ông hoàn chỉnh nhất, có hệ thống nhất thời
    Tiên Tần.
    Ông tặng cho hậu thế những tư tưởng bình đẳng, tự do, trọng hoà bình,
    không tranh giành nhau mà khoan dung với nhau (dĩ đức báo oán), trở về tự
    nhiên, sống thanh tịnh. Trở về tự nhiên theo ông không phải là trở về thời ăn
    lông ở lỗ, sống bằng săn bắn và hái trái cây, mà trở về buổi đầu thời đại
    nông nghiệp, thời bộ lạc, có tù trưởng nhưng tù trưởng cũng sống như mọi
    người khác, không can thiệp vào đời sống của dân. Nước thì nhỏ mà dân ít;
    các nước láng giềng trông thấy nhau, nghe được tiếng cho sủa, tiếng gà gáy
    của nhau mà dân các nước không qua lại với nhau, có thuyền có xe mà

    không ngồi, dùng lối thắc dây thời thượng cổ mà không có chữ viết (chương
    80). Thời đó có thể là thời Nghiêu Thuấn mà tất cả các triết gia thời Tiên
    Tần đều cho là hoàng kim thời đại. Dĩ nhiên nhân loại không lùi lại như vậy
    được và đọc Lão tử chúng ta chỉ nên nhớ rằng ông muốn cứu cái tệ đương
    thời là đời sống đã phúc tạp quá, từ kinh tế tới lễ nghi, chính trị, tổ chức xã
    hội; con người đã gian tham, xảo trá nhiều, do đó mà loạn lạc, nghèo khổ.
    Học thuyết của ông bổ túc cho học thuyết của Khổng, nén bớt tinh thần hăng
    hái hữu vi, quá thực tiễn của Khổng. Hiện nay người phương Tây chán nản
    nền văn minh cơ giới, sản xuất để tiêu thụ rồi tiêu thụ để sản xuất, muốn trở
    lại đời sống thiên nhiên, giản dị, nên Đạo đức kinh lại được nhiều người
    đọc[1]. Nhưng các chính trị gia không ai theo bài học của ông cả; tôi nghĩ
    những câu như: “Càng ban nhiều lệnh cấm thì dân càng nghèo” (Chương
    57), “Can thiệp vào việc dân nhiều quá thì dân sẽ trá nguỵ, chống đối”
    (Chương 60) rất đáng cho họ suy ngẫm”.
    Trong Lão tử và Đạo Đức kinh nhìn từ văn minh Lạc Việt đăng trên Diễn
    đàn Lí học Đông phương, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh cho rằng cuốn LTĐĐK của Nguyễn Hiến Lê (Nxb Văn Hóa Thông Tin – 1994) “là cuốn sách
    tập hợp khá nhiều tư liệu, phân tích sâu sắc và được biên dịch một cách
    khách quan…”[2]. Một người khác cũng đánh giá cao bản dịch của cụ
    Nguyễn Hiến Lê. Trong Đạo Đức kinh dễ hiểu, Phan Ngọc bảo: “Trong việc
    dịch này tôi cảm ơn các bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Hiến Lê, Thu
    Giang, Giáp Văn Cường mà tôi đều tham khảo với tinh thần “Hư tâm cầu
    học”. Đó đều là những bản dịch tốt, biểu hiện một trình độ Hán học sâu và
    một công phu khảo cứu hết sức nghiêm túc. So với nhiều bản dịch tiếng
    Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Nga thì nó dễ hiểu hơn” [3].
    LT-ĐĐK gồm có 3 phần:
    Phần I: Đời sống và tác phẩm

    Phần II: Học thuyết
    Chương 1: Đạo và đức
    Chương 2: Tính cách và qui luật của đạo
    Chương 3: Đạo ở đời
    Chương 4: Đạo trị nước
    Phần III: Dịch đạo đức kinh
    Thiên thượng: từ chương 1 đến chương 37
    Thiên hạ: từ chương 38 đến chương 81
    Trong phần III, mỗi chương gồm các phần nhỏ mà tôi tạm gọi là (vì trong
    sách không ghi):
    - Nguyên văn chữ Hán
    - Phiên âm
    - Dịch nghĩa
    - Lời giảng (từ này của cụ Nguyễn Hiến Lê, xem tiết Tư cách ông vua,
    chương IV, phần II)
    Nhưng cũng có chương, như chương 71, cụ lại đặt phần dịch nghĩa ở cuối;
    cũng có chương, như chương 12, chương 40… không có lời giảng. Tuy phần
    dịch nghĩa được in nghiêng, nhưng trong eBook này, tôi cũng ghi thêm dấu
    hoa thị (* – [trong eBook mới, tôi thay bằng đường vạch ngang. QuocSan])
    để phân cách các phần nhỏ đó ra cho tiện phân biệt.
    Trước đây tôi đã chép lại 46 chương của phần III đăng trên Website Hoa Sơn

    Trang. Cuối tháng 12 năm 2009, tôi đã mua được cuốn LT-ĐĐK, nên tôi
    chép trọn phần III: Dịch Đạo Đức kinh trước, sau đó mới chép phần I và
    phần II. Ngoài lí do sẵn có 46 chương trong phần dịch, còn một lí do nữa là
    sau khi chép xong phần dịch rồi, đến khi chép hai phần kia, gặp những câu
    trích dẫn từ phần dịch, ta chỉ cần copy rồi dán vào là xong, rất tiện lợi. Một lí
    do nữa, đó là vì tôi nghĩ rằng nếu chúng ta đọc phần dịch trước rồi sau đó
    mới đọc các phần kia thì sẽ dễ hiểu hơn.
    Bản Hoa Sơn Trang tuy chỉ mới có 46 chương, mà phần Lời giảng (Hoa Sơn
    gọi là Lời bàn) trong nhiều chương bị lược bỏ vài chữ, vài câu hoặc vài
    đoạn; phần Nguyên văn và phần Dịch nghĩa cũng không giống hẳn trong
    sách (trong sách, nguyên văn chữ Hán và phiên âm có nhiều chỗ cũng không
    khớp nhau), nhưng nhờ có bản Hoa Sơn Trang mà việc chép lại 46 chương
    đầu nhanh chóng và dễ dàng hơn so với 35 chương còn lại rất nhiều.
    Xin chân thành cảm ơn Hoa Sơn Trang và xin trân trọng giới thiệu cùng các
    bạn.
    Goldfish
    Tháng 01 năm 2010
    Sửa chữa và bổ sung đầu tháng 12 năm 2011

    PHẦN I: ĐỜI SỐNG VÀ TÁC PHẨM
    CHƯƠNG I: ĐỜI SỐNG
    Lão tử là một hiện tượng khá lạ trong lịch sử triết học của nhân loại. Ông là
    một triết gia lớn, ảnh hưởng tới cả Đông Á ngang với Khổng tử, thời nào
    cũng được dân tộc Trung Hoa tôn trọng[4] không như Mặc tử mà tên tuổi bị
    chìm luôn trong hai ngàn năm; có phần còn hơn Khổng tử nữa vì chưa hề bị
    mạt sát tàn nhẫn như họ Khổng trong bảy tám chục năm nay; mà từ năm 165
    (đời Hậu Hán) lại còn được Đạo gia tôn làm Thái Thượng Lão quân, một
    trong ba vị thần tối cao của họ; đền thờ ông, Đại thanh cung[5], tương truyền
    dựng ở tại nơi ông sinh, hiện nay vẫn còn ở tỉnh Hà Nam, hương khói lúc
    này chắc đã lạnh, nhưng pho tượng cao bốn mét của ông thì may ra vẫn còn.
    Vậy mà chúng ta không biết gì chắc chắn về đời ông, về cả tác phẩm bất hủ
    mang tên ông nữa, mặc dầu Trung Hoa là dân tộc sớm biết trọng sử nhất thế
    giới ngay từ đời Chu, ba ngàn năm trước, họ đã có các sử quan ghi chép
    những biến cố quan trọng từng năm cho mỗi triều đại.
    Từ thời Tư Mã Thiên, bao nhiêu người tra cứu đủ các sách cổ để tìm hiểu
    Lão tử tên thật là gì, sống ở thời nào, làm gì, tiếp xúc với những ai, nhưng
    chỉ đưa ra được những giả thuyết, và càng bàn lại càng thêm rối vì ý kiến
    mâu thuẫn nhau, tới nỗi có người – một học giả Nhật Bản tên là Tân Điền Tả
    Hữu Cát – phủ nhận hết thảy, bảo Lão tử là một con người huyền thoại,
    không hề có!
    Ngay đến tác phẩm Lão tử (Đạo Đức kinh là tên đời Hán đặt cho) rất ngắn,
    mà mỗi nhà chấm câu một khác[6], tới nay đã có trên hai trăm bản hiệu đính,
    giải thích, làm tốn không biết bao nhiêu giấy mực. Lại thêm tác phẩm đó do
    ai viết, xuất hiện thời nào, cũng là vấn đề nan giải nữa. Riêng La Căn Trạch,

    trong cuốn Chư tử khảo sách (Nhân dân xuất bản xã – Bắc Kinh – 1958)
    cũng đã viết ba bài, tổng cộng trên 30.000 chữ để góp ý kiến về con người
    Lão tử và tác phẩm Lão tử và đã làm một bảng kiệt kê kiến giải của trên ba
    chục học giả trước ông và đồng thời với ông. Mà rốt cuộc, các nghi vấn của
    người trước nêu ra vẫn còn là nghi vấn, có thể sẽ vĩnh viễn là nghi vấn,
    không làm sao giải nổi. Một triết gia với một tác phẩm chỉ khoảng năm ngàn
    chữ – mươi, mười lăm trang sách – mà làm cho hậu thế thắc mắc, hao tốn
    tâm trí như vậy, có thế nói là không tiền khoáng hậu trong lịch sử.
    1. Sự tích Lão tử
    Đời sống của Lão tử được chép lần đầu tiên trong bộ Sử kí của Tư Mã Thiên
    phần Liệt truyện, thiên 63: Lão tử, Trang tử, Thân Bất Hại, Hàn Phi. Toàn
    văn như sau:
    1. Lão Tử là người làng Khúc Nhân, hương[7] Lệ, huyện Hỗ, nước Sở; họ Lí,
    tên Nhĩ, tự là Đam (聃)[8], làm quan sử, giữ kho chứa sách của nhà Chu.
    Khi Khổng tử qua Chu, lại hỏi Lão tử về lễ, Lão tử đáp:
    “Những người ông nói đó, thịt xương đều đã nát thịt cả rồi, chỉ còn lại lời
    của họ thôi. Vả lại, người quân tử nếu gặp thời thì ngồi xe ngựa, không gặp
    thời thì đội nón lá mà đi chân. Tôi nghe nói người buôn giỏi thì giấu kĩ vật
    quí, coi ngoài như không có gì; người quân tử đức cao thì dong mạo như
    ngu độn. Ông nên bỏ cái khí kiêu căng, cái lòng đa dục, cái vẻ hăm hở cùng
    cái chí quá hăng của ông đi, những cái đó không có ích gì cho ông đâu. Tôi
    chỉ khuyên ông có bấy nhiêu thôi”.
    Khổng tử về, bảo môn sinh: “Loài chim, ta biết nó bay được; loài cá ta biết
    nó lội được; loài thú ta biết nó chạy được. Chạy thì ta dùng lưới để bẫy, lội
    thì ta dùng câu để bắt, bay thì ta dùng tên để bắn. Đến loài rồng cưỡi gió
    mây mà lên trời thì ta không sao biết được. Hôm nay ta gặp ông Lão tử, ông

    ta là con rồng chăng?”.
    Lão tử trau giồi đạo đức; học thuyết của ông cốt ở chỗ giấu mình, ẩn danh.
    Ông ở nước Chu đã lâu, thấy nhà Chu suy bèn bỏ đi. Đến cửa quan, viên coi
    quan là Doãn Hỉ bảo: “Ông sắp đi ẩn, rán vì tôi mà viết sách để lại”. Thế là
    Lão tử viết một cuốn gồm hai thiên thượng và hạ, nói về ý nghĩa của “Đạo”
    và “Đức”, được trên năm ngàn chữ. Viết xong rồi đi, không ai biết chết ra
    sao, ở đâu.
    Có người bảo: Lão Lai tử cùng là người nước Sở, viết mười lăm thiên sách
    nói về công dụng của Đạo gia cũng đồng thời với Khổng tử.
    Đại khái Lão tử sống trên 160 tuổi, có người bảo trên 200 tuổi, nhờ ông tu
    đạo để kéo dài tuổi thọ.
    Sau khi Khổng tử mất 129 năm, sử chép rằng viên Thái tử nhà Chu tên là
    Đam 儋, yết kiến Tần Hiến công[9], tâu: “Mới đầu Tần hợp với Chu, hợp
    được 500 năm rồi thì tách ra, tách được 70 năm thì có một bá vương xuất
    hiện”.
    Có người bảo Đam đó tức là Lão tử, có người lại bảo không phải. Không
    biết sự thực đó ra sao.
    Lão tử là một bậc quân tử ở ẩn. Con ông tên là Tôn, làm tướng quốc nước
    Nguỵ, được phong đất ở Đoạn Can[10]. Con của Tôn là Chú, con của Chú
    là Cung, chút của Cung là Giả (hay Giá). Giả làm quan dưới triều Hiếu Văn
    đế nhà Hán. Con của Giả là Giải làm Thái phó của Giao Tây vương tên là
    Ngang, do đó mà cư trú ở Tề.
    Người đời hễ theo thuyết của Lão thì chê bai Nho học, mà theo Nho học thì
    cũng chê bai Lão tử. “Đạo khác nhau thì khó cùng bàn với nhau được”, là
    nghĩa vậy chăng? Lí Nhĩ chủ trương chỉ cần “vô vi” mà dân sẽ tự cải hoá,
    “thanh tĩnh” mà dân sẽ tự nhiên thuần chính[11].

    Cũng trong bộ Sử kí còn một đoạn nữa chép lời Lão tử khuyên Khổng tử:
    “Tôi nghe nói người giàu sang tiễn nhau bằng tiền bạc, người nhân tiễn
    nhau bằng lời nói. Tôi không phải là người giàu sang, mạn phép tự coi là
    người nhân mà tiễn ông bằng lời này: kẻ thông minh và sâu sắc thì khó sống
    vì ham phê bình người; kẻ giỏi biện luận, biết nhiều thì nguy tới thân vì hay
    nêu cái xấu của người. Kẻ làm con và kẻ làm tôi đều không có cách gì để giữ
    mình cả”. (Phần Thế gia – Thiên 47 – Khổng tử).
    Để viết hai đoạn trên, Tư Mã Thiên đã dùng nhiều sử liệu về Lão tử thời
    Tiên Tần để lại; đặc biệt là các sử liệu trong bộ Trang tử (các thiên Thiên
    đạo, Ngoại vật, Thiên vận…), các bộ sử cổ hoặc gia phả họ Lão, có thể cả
    trong cuốn Quan Doãn tử nữa (coi La Căn Trạch – sách đã dẫn – tr.255).
    Ngoài ra, các bộ Tuân tử, Hàn Phi tử, Chiến Quốc sách, Lã Thị Xuân Thu
    cũng nhắc đến Lão tử, nhưng chỉ phê bình học thuyết chứ không cho biết gì
    thêm về đời sống của ông trừ điểm này: Lão tử là thầy học của Khổng tử (Lã
    Thị Xuân Thu, thiên Đương nhiễm) mà không ai có thể tin được.
    Phải đợi tới khoảng hai thế kỉ sau khi bộ Sử kí của Tư Mã Thiên ra đời,
    chúng ta mới thấy được một tài liệu nữa trong bộ Tiểu Đái kí[12], thiên Tăng
    tử vấn, thuật lại việc Khổng tử hỏi Lão tử về lễ. Tất cả gồm bốn cố sự, đều
    do Khổng tử kể lại lời của Lão tử về việc giữ bài vị của tổ tiên, về việc chôn
    cất, về việc để tang (cố sự 1, 3, 4). Duy có cố sự 2 đáng cho ta để ý: Lần đó
    Khổng tử theo Lão tử làm trợ táng ở Hạng Đảng, giữa đường gặp nhật thực.
    Lão tử bảo: “Khâu! Ngừng lại, đặt quan tài ở lề đường bên phải, ngưng tiếng
    khóc để đợi sự biến đổi”. Khi hết nhật thực rồi, đám táng mới tiếp tục đi.
    Lão tử bảo: “Như vậy là lễ” (…).

    Đại khái những tài liệu chúng ta biết được về Lão tử chỉ có bấy nhiêu.
    Tư Mã Thiên đã tốn công tra cứu trong tất cả các sách cổ, thận trọng ghi hết

    những ý kiến khác nhau của nhiều người và gợi cho người sau nhiều điểm
    nghi vấn mà chúng tôi sẽ lần lượt xét cùng với ý kiến của một số học giả gần
    đây.
    2. Quê quán
    Các bản Sử kí lưu hành hiện nay đều chép là Lão tử gốc ở làng Khúc Lí[13],
    hương Lệ 厲[14], huyện Hỗ 苦[15] nước Sở. Nhưng có nhà như Lục Đức
    Minh, Khổng Dĩnh Đạt… lại bảo Sử kí chép là nước Trần, huyện Tương 相,
    hương Lại 賴 hoặc 瀨[16]. Vậy có nhiều bản Sử kí do người sau đã tự ý sửa
    lại. Không sao biết được bản nào là gốc; chỉ biết Tư Mã Thiên không đưa ra
    một giả thuyết nào khác, không coi quê quán của Lão tử là một nghi vấn, mà
    đa số học giả từ trước tới nay đều theo thuyết: nước Sở, huyện Hỗ, hương
    Lệ.
    Thực ra về địa điểm, các thuyết đó đều giống nhau, chỉ có tên gọi là khác:
    - 厲 賴 瀨[17] thời xưa đọc như nhau, thay cho nhau.
    - Huyện 相 cũng chính là huyện 苦, thời Chiến Quốc gọi là Hỗ, thời Xuân
    Thu gọi là Tương.
    - Và Trần cũng là Sở: thời Xuân Thu là nước Trần, năm 478[18], tức sau khi
    Khổng tử mất được một năm, Trần bị Sở diệt.
    Về địa điểm mỗi cách gọi có một ý nghĩa quan trọng; gọi là Sở là Hỗ, có thể
    ngầm nhận rằng Lão tử là người thời Chiến Quốc, mà gọi là Trần, Tương thì
    có thể ngầm nhận rằng ông là người thời Xuân Thu. Nhưng chúng tôi cho
    rằng Tư Mã Thiên có lẽ không dùng chữ chính xác tới mức đó; vì một mặt
    ông khẳng định Lão tử là người nước Sở (cho nên ở dưới ông mới viết: “Lão
    Lai tử cũng (亦)[19] là người Sở”), huyện Hỗ, tức dùng những tên thời
    Chiến Quốc; một mặt ông lại bảo Lão tử gặp Khổng tử ở thời Xuân Thu. Có
    thể đó chỉ là do ông sơ ý chứ chúng ta chưa nên vội cho ông là mâu thuẫn

    với chính ông.
    3. Tên họ
    Tư Mã Thiên bảo Lão tử họ Lí, tên Nhĩ, tự là Đam; ông có vẻ tin như vậy
    nhưng cũng đưa thêm hai thuyết nữa mà ông nhận rằng không biết đúng hai
    sai: một thuyết Lão tử là Lão Lai tử, cũng người nước Sở, cũng viết sách,
    đồng thời với Khổng tử; một thuyết, Lão tử là viên thái sử nhà Chu cũng tên
    là Đam, nhưng chữ Đam này 儋, yết kiến Tần Hiến Công vào khoảng năm
    350 thời Chiến Quốc.
    Họ, tên, và tên tự đó rất thông dụng từ xưa tới nay. Tên là Nhĩ (tai), tự là
    Đam 聃 (tai dài) thì rất hợp. Theo truyền thuyết Lão tử lại rất thọ, cho nên
    người ta còn gọi Lão Đam (ông già tai dài), và vì tôn trọng mà gọi là Lão tử.
    Người đầu tiên chúng tôi được biết đã bác thuyết “họ Lí” là Dư Bồi Lâm
    (sách đã dẫn). Dư bảo:
    “Tra khắp các sách cổ thì thời Xuân Thu không có họ Lí, mãi đến thời Chiến
    Quốc mới có Lí Khối, Lí Khắc, Lí Mục v.v…, như vậy đủ biết họ Lí xuất
    hiện rất trễ. Lão tử phải họ Lão. Sách Tả truyện, năm 15 đời Thành công có
    Lão Tá, năm 14 đời Chiêu công có Lão Kì, Luận ngữ có Lão Bành, Sử kí có
    Lão Lai. Không thể tra khảo để biết Lão tử có thuộc dòng họ những người
    đó không, nhưng không còn nghi ngờ gì nữa, thời cổ đã có họ Lão rồi. Vả lại
    các triết gia thời Tiên Tần đều gọi bằng họ, như Khổng tử, Mặc tử, Trang tử,
    Tuân tử, Hàn tử, không nhà nào không như vậy. Lão tử không ra ngoài lệ đó.
    Gọi là Lão tử, chứ không Lí tử, là Lão Đam chứ không Lí Đam, như vậy rõ
    ràng là họ Lão chứ không phải họ Lí. Họ Lão, mà gọi lầm ra họ Lí, do lẽ hai
    chữ Lão, Lí đọc hơi giống nhau, cũng như Tuân 荀 Khanh bị gọi nhầm là
    Tôn 孫 Khanh vậy”[20].
    Dư Bồi Lâm có lí trừ điểm cuối cùng: Lí khó lầm với Lão được. Thuyết đó

    ông mới đưa ra năm 1973 ở Đài Loan, không biết đã có ai phê bình chưa.
    4. Chức tước
    Lão tử làm quan sử, giữ kho sách của nhà Chu, tức như chức Giám đốc thư
    viện Quốc gia ngày nay. Điểm này, Tư Mã Thiên chép theo thiên Thiên đạo
    trong Trang tử[21]. Đời sau không thấy ai nghi ngờ mà cũng không ai tìm ra
    được dưới thời vua nào của nhà Chu (sử Chu không chép).
    5. Lão tử với Khổng tử có gặp nhau không? Khổng tử có hỏi Lão tử về lễ
    không?
    Vấn đề này gây nhiều cuộc tranh luận nhất, tới nay vẫn chưa giải quyết
    xong.
    Chúng ta hãy để riêng ra chủ trương của Diệp Thích, Tống Dật Danh, Đàm
    Giới Phủ, Tiền Mục cho rằng có hai Lão tử: một Lão tử giảng lễ cho Khổng
    tử và một Lão tử, tác giả cuốn Lão tử. Chủ trương đó cơ hồ không ai chấp
    nhận.
    Còn lại các học giả khác thì xét chung, trước đời Thanh hầu hết ai cũng tin
    rằng Khổng tử có yết kiến Lão tử để hỏi về lễ; từ đời Thanh mới có và nhà
    ngờ rằng không, gần đây số người chủ trương “không” đông hơn số người
    chủ trương “có”.
    Trong phái chủ trương “có”, phải kể Hồ Thích, Cao Hanh, Quách Mạc
    Nhược; trong phái chủ trương “không”, có Tất Nguyên, Uông Trung, Lương
    Khải Siêu, Cố Hiệt Cương, La Căn Trạch v.v…
    Chúng tôi nhắc lại, những đoạn ghi cuộc “vấn lễ” (hỏi về lễ) đó chép trong
    Sử kí và Tiểu Đái kí, mà chúng tôi dẫn ở trên. Ngoài ra còn những thiên
    Thiên địa, Thiên đạo, Thiên vận, Điền Tử Phương, Trí Bắc du trong Trang
    tử và thiên Đương nhiễm trong Lã thị Xuân Thu, cũng nhắc qua nhưng

    không cho biết thêm gì cả.
    Đại khái phái chủ trương “có” đưa ra những lí lẽ này:
    1. Sách thời Chiến Quốc có tới bảy tám chỗ nói về việc vấn lễ đó, không
    thể là bịa hết được.
    2. Tư Mã Thiên là một Nho gia rất sùng bái Khổng tử, lại là một sử gia
    rất có lương tâm, nếu không có tài liệu chắc chắn thì sao lại chép
    truyện vấn lễ đó, nó làm giảm giá trị của Khổng tử đi; hơn nữa ở bài
    Tựa trong thiên Trọng Ni đệ tử (phần Liệt truyện), ông còn kể tên mấy
    người mà Khổng tử rất trọng: Lão tử ở Chu, Cừ Bá Ngọc ở Vệ, Án
    Bình Trọng ở Tề, Lão Lai tử ở Sở, Tử Sản ở Trịnh, Mạnh Công Xước
    ở Lỗ. Năm người sau đều là nhân vật có thật, sử chép rõ ràng, không
    có lí gì duy Lão tử lại không có thật, vậy thì việc vấn lễ cũng có nữa.
    3. Lễ kí là một bộ kinh của Nho gia, những người biên tập bộ đó (Lưu
    Hướng, Đái Đức, Đái Thánh) tất phải là những Nho gia thận trọng,
    nhất là trong thiên Tăng tử vấn có chép rằng Lão tử và Khổng tử đi trợ
    táng ở Hạng Đảng, giữa đường gặp nhật thực. Việc đó tất có thực, chứ
    người ta bịa ra truyện nhật thực làm chi.
    Dư Bồi Lâm (sách đã dẫn) cho rằng Khổng tử gặp Lão tử tới hai lần: lần thứ
    nhất năm ông 34 tuổi, lần sau hồi ông 51 tuổi ở đất Bái (theo Trang tử[22]).
    Những cuộc đàm thoại chép trong Sử kí và việc trợ táng chép trong Tăng tử
    vấn đều xảy ra trong lần thứ nhất; còn lần thứ nhì thì chưa tìm thêm được tài
    liệu gì cả.
    Phái chủ trương “không” bác những lẽ đó:
    1. Sách thời Chiến Quốc có nhiều chỗ nói về việc vấn lễ đó thực, nhưng
    đều ở trong Ngoại thiên, Tạp thiên bộ Trang tử và Tăng tử vấn bộ Tiểu
    Đái kí, những thiên đó trong Trang tử đều không đáng tin, có nhiều
    phần chắc rằng tác giả là Đạo gia ở cuối thời Chiến Quốc chịu ảnh

    hưởng của Nho gia chứ không phải của Trang tử[23] và của những
    Nho gia chân chính. Câu Khổng tử bảo Lão tử là con rồng rút trong
    thiên Thiên vận, sách Trang tử, truyện đó chỉ đáng coi là một ngụ
    ngôn.
    2. Còn chuyện đi trợ táng ở Hạng Đảng (trong Tăng tử vấn) gặp nhật
    thực, có điểm đáng nghi là Hạng Đảng ở đâu, không ai biết; có người
    ngờ là ở Lỗ, có người ngờ là ở Tống, chứ không phải ở Chu.
    3. Vả lại ngay việc Khổng tử qua Chu nghiên cứu về Lễ cũng chưa chắc
    đã đúng. Khổng tử thế gia bảo Nam Cung Kính Thúc xin Lỗ Chiêu
    công cấp phương tiện cho Khổng tử sang Lạc ấp ở Chu khảo về lễ.
    Năm đó là năm Chiêu công 24, tức năm -518, Khổng tử 34 tuổi. Vua
    Lỗ cấp cho một cổ xe với hai ngựa và một đứa nhỏ rồi Nam Cung
    Kính Thúc cùng đi với Khổng tử. Nhưng theo La Căn Trạch (sách đã
    dẫn – tr.254), năm đó Nam Cung Kính Thúc tuổi mới 14, làm sao
    được vào yết kiến vua để xin việc đó, làm sao vua Lỗ cho qua Chu
    được.
    4. Dư Bồi Lâm còn nói Khổng tử qua Chu lần thứ nhì hồi ông 51 tuổi.
    Điều này càng khó tin hơn nữa. Năm này (Định công 9) Khổng tử
    thăng chức Tư không, bận việc triều đình, thì giờ đâu mà qua Chu và
    qua Chu để làm gì?
    5. Nếu Lão tử hồi đó đã nổi danh, được Khổng tử kính trọng như vậy thì
    tại sao bộ Luận ngữ (bộ sách đáng tin nhất về đời Khổng tử) không
    thấy chép, mà tất cả các sách đầu đời Chiến Quốc như Mặc tử, Mạnh
    tử nữa cũng không thấy chép?
    6. Trong Luận ngữ chỉ có mỗi một đoạn ở đầu thiên Thuật nhi nói đến
    một người họ Lão, tức Lão Bành. Đoạn đó như sau:
    7. Tử viết: “Thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ, thiết tỉ ư ngã Lão Bành”.
    (Khổng tử nói: Ta thuật lại đạo của thánh hiền chứ không sáng tác gì
    mới; ta tin và hâm mộ đạo cổ nhân. Ta trộm ví ta với ông Lão Bành).
    8. Không ai biết chắc ông Lão Bành đó là ai. Có người bảo là Bành Tổ,

    mà Bành Tổ sống bảy tám trăm tuổi, là bề tôi của vua Nghiêu; có
    người bảo là một đại phu đời Thương; có người bảo Lão Bành là Lão
    Đam, tức Lão tử, nhưng Bành 彭 mà sao thành Đam 耼 được? Lại có
    thuyết Lão, Bành là hai người: Lão Đam và Bành Tổ. Thuyết này càng
    vô lí hơn nữa.
    9. Vả lại Lão tử cực lực phản đối lễ. Chương 38 sách Lão tử chép: “Thất
    đạo nhi hậu đức, thất đức nhi hậu nhân, thất nhân nhi hậu nghĩa, thất
    nghĩa nhi hậu lễ. Phù lễ giả, trung tín chi bạc, nhi loạn chi thủ”. (Đạo
    mất rồi sau mới có đức, đức mất rồi sau mới có nhân, nhân mất rồi
    sau mới có nghĩa, nghĩa mất rồi sau mới có lễ. Lễ là biểu hiện sự suy
    vi của trung tín (trung hậu, thành tín), là đầu mối của sự hỗn loạn).
    10. Một người mạt sát lễ là mầm loạn trong xã hội mà lại ủng hộ cái lễ
    phiền toái của nhà Chu như Tăng tử vấn chép, thì thật là ngược đời. Vì
    vậy mà đời Tống đã có người bảo: “Ông Lão tử tuyệt diệt lễ nhạc với
    ông Lão tử mà Khổng tử tới hỏi lễ, không phải là một người” (trong
    cuốn Lâm hạ ngẫu đàm của Ngô Tử Luông – do La Căn Trạch dẫn
    trong Chu tử khảo sách tr.253). Chủ trương có hai Lão tử của Diệp
    Thích, Tống Dật Danh, Đàm Giới Phủ, Tiền Mục (coi lại đầu tiết này)
    có lẽ bắt đầu từ đó.
    11. Tôi muốn nói thêm: “Ông Khổng tử trong Luận ngữ đề cao lễ nghĩa,
    coi trọng đạo trung hiếu với ông Khổng tử hỏi lễ Lão tử cũng không
    phải là một người”. Khổng tử trọng các ẩn sĩ nhưng vẫn giữ chủ
    trương của mình: tận tâm lo việc nước nhà, giáo hoá mọi người, lập
    trật tự trong xã hội, dù biết đạo mình không ai theo thì cũng cứ gắng
    sức làm. Cho nên khi Tử Lộ bảo hai ẩn sĩ là Tràng Thư và Kiệt Nịch
    chê ông phí công vô ích, không sao đổi đời loạn ra trị được, ông ngậm
    ngùi than: “Người ta không thể làm bạn với cầm thú được. Nếu ta
    chẳng sống chung với người trong xã hội thì sống với ai? Vả lại nếu
    thiên hạ trị rồi thì ta cần gì phải sửa đổi?” (Vi tử bài 6). Ông Khổng tử
    đó mà lại có thể nghe được lời khuyên này của Lão: “Kẻ làm con, kẻ

    làm tôi đều không có cách gì để giữ mình cả”, nghĩa là bỏ đạo làm
    con, làm tôi mà ở ẩn một mình trong rừng núi, làm bạn với cầm thú ư?
    Còn ông Lão tử kia đương làm quan sử cho nhà Chu sao có thể nói câu
    đó mà không ngượng?
    12. Vì vậy truyện hỏi lễ đó dù được nhiều sách chép, dù được các nhà Nho
    và Tư Mã Thiên nữa thu thập, cũng không đáng cho ta tin.
    13. Những lí lẽ của hai phái “có” và “không” đưa ra chỉ là những suy luận,
    không thể gọi là chứng cứ xác thực được; không bên nào thuyết phục
    nổi bên nào, nhưng riêng phần chúng tôi thì cho rằng lập luận của phái
    “không” dễ chấp nhận hơn.
    14. Khi thấy nhà Chu suy rồi, Lão tử bỏ đi, tới cửa quan, viên quan coi
    cửa là Doãn Hỉ yêu cầu ông viết sách để lại. Ông viết xong rồi đi, sau
    không biết ở đâu, ra sao.
    15. Sử kí chỉ chép là tới cửa quan, không nói là tới cửa quan nào. Nhưng
    thời đó nói “cửa quan” thì người ta hiểu là cửa Hàm Cốc, cửa ngõ qua
    Tần.
    16. Còn Doãn Hỉ là ai? Chúng ta cũng không biết chắc. Vũ Đồng trong
    Trung Quốc triết học đại cương (quyển Thượng – tr.25 – Thương vụ
    ấn quán) không rõ căn cứ vào đâu bảo Doãn Hỉ sinh vào khoảng 440
    đời Chu Khảo vuơng, mất vào 360 đời Chu Hiển vương, và là đồng
    bối của Dương tử, Lão tử, Liệt tử. Theo Hán chí chu tử lược thì Doãn
    Hỉ soạn cuốn Quan Doãn tử gồm 9 thiên (đã thất truyền, bản lưu hành
    ngày nay là nguỵ thư) rồi cùng với Lão tử đi ở ẩn.
    17. Đi qua cửa Hàm Cốc là vào đất Tần. Thiên Dưỡng sinh chủ trong
    Trang tử bảo: “Lão Đam chết, Tần Dật (có sách chép là Tần Thất) lại
    điếu, khóc ba tiếng rồi ra”. Dưỡng sinh chủ ở trong phần Nội thiên, do
    Trang tử viết chỉ có thể tin được một phần thôi[24]. Trang tử là một
    triết gia, thích thể ngụ ngôn, chứ không phải là một sử gia. Một sách
    khác còn cho biết Lão tử chết ở Phù Phong, chôn ở Hoè lí (làng Hoè).
    Chi tiết đó không có cách nào kiểm tra được, chỉ nên ghi lại cho đủ

    thôi.
    6. Lão tử có phải là Lão Lai tử không?
    Tư Mã Thiên ngờ là không phải. Trong thiên Trọng Ni đệ tử, ông bảo Khổng
    tử vốn trọng Lão tử ở Chu, (…), Lão Lai tử ở Sở; như vậy ông coi Lão tử và
    Lão Lai tử là hai người rồi.
    Trong truyện Lão tử ông viết: “Có người bảo: Lão Lai tử cũng là người nước
    Sở, viết mười lăm thiên sách nói về công dụng của Đạo gia, cũng đồng thời
    với Khổng tử”; còn Lão tử viết hai thiên nói về ý nghĩa của Đạo và Đức; như
    vậy cũng là hai người nữa.
    Ông bảo Lão Lai tử đồng thời với Khổng tử; như theo Vũ Đồng (sách đã
    dẫn) thì sách Khổng Tùng tử bảo Lão Lai tử đồng thời với Tử Tư, cháu nội
    Khổng tử, có lần vấn đáp với Tử Tư.
    Vậy Lão Lai tử là người có thật, nhưng chỉ giống Lão tử ba điểm: cùng họ
    Lão, cùng là người Sở, cùng thuộc phái Đạo gia; không thể bảo Lão Lai tử là
    Lão tử được.
    Tư Mã Thiên có lí khi nghi ngờ thuyết trên, ông chỉ chép lời người ta đồn
    thôi. Không một học giả nào tin thuyết đó hết, không nên coi là một nghi vấn
    nữa.
    7. Lão tử có phải là thái sử Đam 儋 không?
    Tư Mã Thiên theo truyền thống sử gia của Trung Quốc, giữ đúng nguyên
    tắc: “Xuân Thu chi nghĩa, tín dĩ truyền tín, nghi dĩ truyền nghi” (Cốc Lương
    truyện), cho nên chép thêm cả thuyết Lão tử là thái sử Đam nhà Chu, mà ông
    phê bình gì cả, chỉ bảo “sự thực ra sao”.
    Như vậy thuyết đó đã có từ đời Tây Hán; nhưng tới thế kỉ XVIII mới được

    Tất Nguyên (trong Đạo Đức kinh khảo dị) và Uông Trung (trong Lão tử
    khảo dị) chủ trương, và gần đây học giả bênh vực nó mạnh nhất, kiên kì nhất
    là La Căn Trạch (trong sách đã dẫn).
    Đại khái La đưa ra những lí do này:
    1. 聃 với 儋 đồng âm, thời xưa dùng như nhau;
    2. cả hai người đều làm sử quan nhà Chu;
    3. cả hai đều qua cửa Hàm Cốc vì thái sử Đam đã có lần sang Tần yết
    kiến Tần Hiến công;
    4. thuyết đó rất hợp với sự kiện này: hậu duệ đời thứ 8 của Lão tử (tên là
    Giải) đồng thời với hậu duệ thứ 13 của Khổng tử (tên Khổng An
    Quốc).
    Tư Mã Thiên chắc đã tra cứu trong gia phả họ Lão, bảo con Lão tử là Tôn,
    làm tướng nước Nguỵ, được phong ở Đoàn Can[25]. Theo Lục quốc niên
    biểu trong Sử kí thì “con của Lão tử” làm tướng quốc nước Nguỵ năm 273
    (Chu Xá vương, năm 24). Con của Khổng tử là Lí sinh năm 532, mất năm
    484. Hai người sinh cách nhau khoảng hai trăm năm, bằng sáu bảy thế hệ,
    cũng gần đúng: mỗi thế hệ khoảng 30 năm. Từ Khổng tử tới Khổng An Quốc
    (hậu duệ 13 đời) ở triều Hán Cảnh đế, Vũ đế, vào khoảng 400 năm, mỗi thế
    hệ cũng khoảng 30 năm.
    Vả lại “Sau khi Khổng tử mất 129 năm” – tức vào khoảng 479 – 129 = 350,
    thái sử Đam qua Tần yết kiến Hiến Công; giả sử năm đó thái sử Đam 30
    tuổi, hai ba chục năm sau sinh ra Tôn (vào khoảng 330 hay 320, thì khi Tôn
    làm tướng quốc nước Nguỵ, tuổi vào khoảng bốn năm chục (330 – 273 = 57,
    hay 320 – 273 = 47); nếu năm 350 đã sinh ra Tôn rồi, thì khi làm tướng
    Nguỵ, Tôn vào khoảng 80 tuổi (350 – 327 = 77), cũng vẫn có thể được.
    Ba lí do đầu, xét riêng từng lí do một thì không có giá trị gì cả, gồm cả ba thì
    cũng có giá trị một phần nào. Lí do thứ tư có giá trị hơn cả, nhưng Cao Hanh

    không biết căn cứ vào đâu mà lại bảo Tôn tướng Nguỵ được phong ở Đoàn
    Can không ...
     
    Gửi ý kiến

    KÍNH CHÀO QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ GHÉ TƯỜNG WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS NGÔ MÂY!

    Những quyển sách làm say mê ta đến tận tủy, chúng nói chuyện với ta, cho ta những lời khuyên và liên kết với ta bởi một tình thân thật sống động và nhịp nhàng.